Lương y Nguyễn Hữu Toàn cho biết: Trong y học cổ truyền không có bệnh nào là prolactin cao, tuy nhiên căn cứ vào các triệu chứng, nguyên nhân gây bệnh thì prolactin cao có quan hệ mật thiết với 3 tạng: can, tỳ, thận. Mà thận lại là gốc của tiên thiên, chủ cốt sinh tủy và quản lý bộ phận sinh dục và sinh sản. Can thận đồng nguyên, thận tinh mà thiếu hụt tất can mộc không được nuôi dưỡng dẫn đến công năng sơ tiết của can gặp trở ngại. Do đó mà khí huyết trong cơ thể không được đầy đủ và điều hòa gây nên can khí thượng sung, khí huyết nghịch loạn không tuần hoàn như bình thường. Can mà uất lâu ngày hóa hỏa gây can kinh uất nhiệt,can hỏa thượng sung,can khi đi lên nhập vào vùng ngực mà tự nhiên tiết sữa. Tỳ hư thất vận, thủy thấp tích tụ, trở trệ bào mạch, khí huyết thất hòa, huyết không chảy xuống bào cung mà lại ngược lên mà sinh ra sữa. Cho nên 3 công năng thất điều của 3 tạng can tỳ thận ảnh hưởng đến khí huyết không điều hòa. Chỉ cần dùng thuốc đông y có thể giúp điều hòa cơ thể, cân bằng nội tiết tố, giúp tuyến yên hoạt động bình thường. Đây là phương pháp điều trị từ gốc của bệnh.
Hơn nữa Prolactin cao thường gặp ở các trường hợp phụ nữ bị đa nang buồng trứng, do đó Đông y điều trị prolactin cao thường kết hợp với điều trị hội chứng buồng trứng đa nang. Sau trung bình 2-3 tháng uống thuốc kích thước niêm mạc, nang noãn sẽ tăng lên, cơ hội thụ thai tự nhiên vì thế cũng cao hơn. (khác hoàn toàn với phương pháp điều trị buồng trứng đa nang bằng thuốc tránh thai của tây y).
Tại phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn 70-80% bệnh nhân prolactin cao đã được điều trị hiệu quả. Sau trung bình 2-4 liệu trình điều trị đi kiểm tra chỉ số prolactin đã trở về bình thường, và sau 3-6 liệu trình điều trị đã có thai tự nhiên.
“Kính gửi bác sĩ
Cháu lấy chồng hơn 1 năm nay mà chưa có con, dù hai vợ chồng cháu không kế hoạch. Cháu chưa có thai lần nào. Cháu đi kiểm tra tây y bác sĩ nói cháu bị prolactin cao. Kinh nguyệt của cháu đều, kéo dài 5-6 ngày thì hết, 2 ngày đầu thì ra nhiều, còn những ngày sau thì ít. Máu kinh lúc đỏ tươi, lúc đỏ thẫm, thi thoảng có hòn cục. Cháu ăn uống kém, ngủ không sâu, người gầy. Ngoài ra cháu còn có tiền sử đau dạ dày.
Chồng cháu đi kiểm tra tinh trùng hơi yếu.
Mong bác sĩ tư vấn để vợ chồng cháu sớm có tin vui.”
Sau khi nhận được thư của chị Vụ, phòng khám có liên lạc trực tiếp và tư vấn cụ thể cho vợ chồng chị.
Vợ chồng anh chị uống 40 thang thuốc có gửi thư đến phòng khám:
“ Tôi đã đi khám.kq la voi trứng thông.niêm mạc tử cung hơi mong 9,8mm.prolactin cao 936um/l.thay kinh đâu bụng ,đau lưng,ra mau cục,2ngay đầu màu thâm,kinh kéo dài 5-6 ngay.do đk công tác xa nhà.tôi goi điện lấy thuốc.tôi uống 40 thang rồi nhưng chưa thấy hiểu quả.Tôi kính mong nhà thuốc xem xét lại va thay thuốc khác có hiểu quả hơn được k.đăng trong giờ làm việc tôi chỉ gửi qua đây”
Được sự động viên, tư vấn của phòng khám vợ chồng anh chị tiếp tục điều trị. Anh chị uống thêm 3 liệu trình thuốc (60 thang) đến ngày 6/10 năm 2015 (sau 5 liệu trình điều trị = 100 thang thuốc) chị Vụ thấy chậm kinh. Thử que lên hai vạch.Chị Vụ gọi điện cảm ơn phòng khám đã đem lại niềm vui cho gia đình chị.
Chị Vân Anh lập gia đình hơn 1 năm mà chưa có em bé. Hơn nữa 4 tháng nay kinh nguyệt của chị rất ít, 3 ngày đã hết kinh, chị đi kiểm tra phát hiện prolactin cao, kèm theo hiện tượng tiết sữa nhiều. Buồng trứng đa nang, tử cung nhỏ. Ăn uống không ngon miệng, người hơi béo. Các chỉ số khác bình thường.
Chị Vân Anh được biết phòng khám đã điều trị hiệu quả cho rất nhiều bệnh nhân prolactin cao nên chị gọi điện ra phòng khám để đặt thuốc điều trị. Sau khi được tư vấn và làm bệnh án cụ thể, phòng khám đã chuyển thuốc đến tận nhà cho chị Vân Anh.
Uống hết liệu trình đầu tiên 20 thang thuốc chị thấy ngực đỡ bớt tiết sữa hơn
Chị tiếp tục điều trị tổng cộng 4 liệu trình (80 thang thuốc + bổ huyết hoàn) chị đi kiểm tra lại chỉ số prolactin đã trở lại bình thường, ngực đã không còn tiết sữa nữa. Buồng trứng phát triển tốt. Hiện tại chị đang tiếp tục điều trị để tăng khả năng thụ thai.
Chị Hà lấy chồng 3 năm mà chưa có bé. Hai vợ chồng đi kiểm tra, phát hiện chị bị tắc 2 bên vòi trứng. Bác sĩ yêu cầu chị mổ nội soi, nhưng không thông được vòi trứng. Ngoài ra prolactin cao, có hiện tượng ngực tiết sữa. Chu kì kinh nguyệt đều 28-29 ngày có kinh 1 lần, 5 ngày sạch kinh, sắc kinh đỏ tươi. Tiền sử viêm âm đạo đã điều trị ổn định. Người nóng trong. Tiền sử viêm dạ dày, có viên gan B
Được người quen giới thiệu chị Hà gọi điện về phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn đặt thuốc điều trị. Uống được 40 thang, chị Hà thấy chậm kinh, thử que lên 2 vạch, kiểm tra thai đã vào buồng tử cung. Sức khỏe của mẹ và thai nhi đều tốt. Hiện tại chị đang tiếp tục dùng thuốc bổ an thai của phòng khám.
Tháng 12 năm 2013 chị Liên có gửi thư tới phòng khám.
Email: [email protected]
“ Cách đây gần 2 năm, kinh nguyệt bị chậm khoảng 10 ngày rồi ra rất ít. Sau đó chu kỳ 31 ngày 1 lần tuy nhiên số lượng rất ít, trước đó 1 tuần luôn bị trướng bụng dưới, sưng tức ngực, táo bón. Kinh nguyệt đen, lượng ra rất ít, gần 2 ngày thì hết. Đã chụp vòi trứng,không bị tắc, vòi trứng thông không dính niêm mạc tử cung. Đã thả 5 tháng chưa có bầu. Siêu âm cổ tử cung nhỏ.
Xét nghiệm nội tiết, tỷ lệ trứng chỉ số trứng là 23, chỉ số bình thường là dưới 100, trứng lép-ít. Chỉ số prolactin 626, chỉ số bình thường là 20-400, bị cao hơn so với bình thường, ngăn cản phóng noãn-rụng trứng . Đã chụp MRI tuyến yên, không bị u tuyến yên.Các chỉ số khác cũng khá thấp.
Kính nhờ lương y tư vấn giúp về nguyên nhân và cách điều trị.”
Sau khi được phòng khám tư vấn về phương pháp điều trị hiếm muộn của phòng khám. Chị Liên đã tới Phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn (Cơ sở 2 – Hà Nội – 18006834 ) để bắt mạch và lấy thuốc điều trị.Sau 2 liệu trình điều trị: 40 Thang + vô sinh hoàn + tứ trấn phiến. Chị Liên đã gọi điện về phòng khám thông báo chậm kinh, thử que lên hai vạch, và muốn được tư vấn để lấy thuốc bổ an thai điều trị. Chị Liên gửi lời cảm ơn chân thành tới Lương y Nguyễn Hữu Toàn và tập thể nhân viên phòng khám.
Bệnh án: Có 1 con 4 tuổi, muốn sinh cháu thứ 2 nhưng thả mà không thấy có. Kiểm tra tây y, bị tắc 1 bên vòi trứng, prolactin cao, kinh nguyệt không đều, chu kỳ 40 ngày.
Điều trị: 70 thang có bầu.
Uống30 thang + thông ứ hoàn: chưa thấy biểu hiện gì khác thường.
Uống 20 thang + thông ứ hoàn: Thấy đau nhói vùng vòi trứng, sắc kinh tốt hơn.
Uống 20 thang nữa có bầu.
Chị Tuyết lập gia đình hơn 2 năm nay chưa có con, nội tiết nữ cao, prolactin cao, chị thường xuyên đau bụng kinh. Chị đã đến phòng khám bắt mạch và điều trị, sau 80 thang thuốc, chị đã thông báo thử que lên 2 vạch. Phòng khám xin gửi lời chúc mừng tới chị cùng gia đình, chúc chị cùng gia đình mạnh khỏe, hạnh phúc.
Chị Vân có gửi thư tới phòng khám với nội dung: Kính gửi nhà thuốc Nguyễn Hữu Toàn. Cháu bị đa nang buồng trứng, Vợ chồng cháu cưới nhau đã 2 năm, không kế hoạch. kinh nguyệt không đều, tháng 20 – 60 ngày.kinh nguyệt kéo dài 1 tuần. có tháng kéo dài tới 12 ngày. Lượng máu kinh khi ra ít khi nhiều. chuẩn bị có kinh thường hay đau đầu, nôn ói 1 ngày là khỏe lại bình thường.đi khám ở phòng khám 56 Hai Bà Trưng kết luận: 2 buồng trứng đa nang, niêm mạc tử cung 6mm, buồng trứng trái 8,5mm, buồng trứng phải 6 mm. Xét nghiệm nội tiết KL: bình thường. cụ thể: FSH 3,91 IU/L, LH 5,78 IU/L, E2 55 pg/ml, Prolactin 416,05 mU/L.( chồng tinh trùng yếu nhưng đang uống thuốc tây y điều trị). Kính mong bác xem xét và điều trị cho cháu. Cháu xin cảm ơn.”
Điều trị: 1 liệu trình bệnh nhân gửi thư đến phòng khám
Cháu đã lấy 20 thang thuốc của phòng khám và đã uống hết. Đã 38 ngày rồi cháu chưa thấy có kinh. sáng nay ngày 21/11 cháu thử thì thấy 2 vạchrõ.cháu chưa đi siêu âm, mong nhà thuốc kê đơn thuốc giữ thai cho cháu. ngày 21/10 cháu chụp TCVT, vậy có ảnh hưởng gì không ?kính mong nhà thuốc tư vấn cho cháu. Cháu xin cảm ơn nhà thuốc.
Lưu ý: Tùy cơ địa của người bệnh mà hiệu quả điều trị có thể khác nhau
Lưu ý trong thời gian điều trị tại Phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn, cần tuân thủ chế độ ăn uống sinh hoạt theo hướng dẫn.
Liên hê để được tư vấn điều trị vô sinh, hiếm muộn
Bệnh nhân có thể mua thuốc trực tiếp tại địa chỉ:
Cơ sở 1: Số 482 lô 22C, Lê Hồng Phong, Ngô Quyền, Hải Phòng
Cơ sở 2: Số 16, lô 1B, Trung Yên 11, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
Hotline: 0225.7300111- 18006834 – 0912759613
Bệnh nhân ở xa có thể đặt mua thuốc qua hotline, qua email: [email protected].
Hoặc địa chỉ Facebook: https://www.facebook.com/Phongkhamdongynguyenhuutoan.thaythuoccuaban
Prolactin là một kích thích tố nội tiết (hormone) do tuyến yên (pituitary gland) sản xuất (tuyến yên là một thành phần của não bộ, nằm ở đáy sọ). Prolactin kích thích tuyến vú phát triển và bài tiết sữa. Prolactin là loại hormone có cả ở nam giới và phụ nữ.
Phạm vi bài viết này chỉ đề cập đến chứng bệnh prolactin cao ở nữ giới.
Mức độ prolactin trong máu người khỏe mạnh bình thường: phụ nữ không mang thai và đàn ông khỏe mạnh bình thường là như sau:
Ở phụ nữ trưởng thành khỏe mạnh bình thường, không có thai, mức độ prolactin trong máu là 127-637 µU/mL, ở phụ nữ có thai là 200 – 4500 µU/mL và ở phụ nữ mãn kinh là 30-430 µU/mL; còn ở nam giới bình thường là 98 – 456 µU/mL.
Mức độ prolactin máu thay đổi rõ rệt trong một ngày, tăng dần trong khi ngủ và đạt đỉnh cao nhất vào buổi sáng. Prolactin trong máu có thời gian bán hủy sinh học chỉ là khoảng 20-30 phút. Vì vậy, thời điểm lấy máu để xét nghiệm prolactin tốt nhất là khoảng 3-4 giờ sau khi thức dậy.
Mức độ prolactin trong máu cũng có thể tăng lên trong một số tình trạng sinh lý bình thường như: sau bữa ăn nhiều thịt, sau giao hợp, kích thích núm vú, sau tập thể dục hoặc khi bị căng thẳng (stress).
Ở phụ nữ mang thai và cho con bú, mức độ prolactin trong máu tăng một cách sinh lý.
Nếu xét nghiệm prolactin vượt mức giới hạn là 127 mIU/ml -637mIU/ml thì được xếp vào trường hợp prolactin cao.
Phụ nữ có chỉ số prolactin cao được cho là một trong những nguyên nhân gây vô sinh, hiếm muộn.
Prolactin cao là bệnh lý nội tiết do rối loạn trục hạ đồi của tuyến yên. Prolactin cao thường gặp ở nữ giới có hội chứng buồng trứng đa nang, ở phụ nữ có u tuyến yên, bị bệnh yếu tuyến giáp trạng…
Xét nghiệm là phương pháp chính xác nhất để kiểm tra chỉ số prolactin bình thường hay cao. Tuy nhiên nếu phụ nữ có một trong những dấu hiệu sau thì sẽ có nguy cơ cao bị prolactin cao:
– Có khối u lành tính ở truyến yên, khối u này có dấu hiệu sản xuất thừa prolactin
– Thường xuyên đau đầu không rõ nguyên nhân
– Suy giảm thị lực
– Vô sinh, hiếm muộn
– Mất kinh hoặc vô kinh
– Vú tiết sữa
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng tăng cao prolactin như: u tuyến yên, suy tuyến giáp, sử dụng thuốc, … Bên cạnh đó thì yếu tố dinh dưỡng cũng được cho là một nguyên nhân dẫn tới tình trạng tăng prolactin huyết thanh. Một số lượng lớn phụ nữ hiếm muộn do prolactin cao thường có chế độ dinh dưỡng không hợp lý: kiêng khem quá mức dẫn tới thiếu dinh dưỡng hoặc ăn quá nhiều chất béo dẫn tới thừa cân, béo phì, lười vận động, thường xuyên căng thẳng, stress cũng là nguyên nhân dẫn tới tình trạng prolactin cao. Dưới đây là những lý giải cụ thể.
Khi bệnh nhân có khối u sản xuất và bài tiết thừa prolactin (prolactinomas): các khối u này thường nhỏ, kích thước trên dưới 1 cm. Người ta cho rằng khối u sản xuất thừa prolactin được tạo thành là do sự giảm mức độ dopamine trong tuyến yên và / hoặc một sự cô lập mạch máu của các tế bào u tuyến. Để chẩn đoán u sản xuất thừa prolactin, cần kết hợp giữa việc đo mức độ prolactin máu và chụp cộng hưởng từ (MRI) não để xác định vị trí và kích thước của khối u cũng như kích thước của tuyến yên.
Khi bệnh nhân có sự giảm estrogen máu (hypoestrogenism), vô sinh do không rụng trứng (anovulatory), ít kinh nguyệt (oligomenorrhoea), vô kinh, tiết sữa bất ngờ và mất ham muốn tình dục ở phụ nữ; rối loạn chức năng cương dương và mất ham muốn tình dục ở nam giới.
– Người có biểu hiện rối loạn ăn uống do chán ăn tâm thần
– Người có bệnh tuyến yên hoặc vùng dưới đồi (hypothalamus)
– Người bị suy giáp
– Người bị bệnh thận, bệnh gan
– Phụ nữ bị hội chứng buồng trứng đa nang
– Có các khối u và các bệnh khác của tuyến yên
Căng thẳng (stress) do bệnh tật, chấn thương thành ngực, co giật, ung thư phổi hoặc sử dụng ma túy cũng có thể gây tăng vừa phải mức độ prolactin.
Một số loại thuốc cũng có thể gây ra sự tăng cao prolactin gồm estrogen, thuốc chống trầm cảm, thuốc phiện (opiates), chất kích thích (như các amphetamines), thuốc điều trị tăng huyết áp (như reserpin, verapamil, methyldopa) và một số thuốc điều trị chứng trào ngược dạ dày thực quản (như cimetidine).
Tây y điều trị prolactin cao chủ yếu tập trung điều trị triệu chứng. Trường hợp bệnh nhân prolactin cao do có khối u sản xuất thừa prolactin thường được điều trị bằng các thuốc chủ vận dopamine (dopamine agonists), có tác dụng làm giảm sản xuất prolactin như bromocriptine hoặc cabergoline . Việc điều trị có thể làm giảm nồng độ prolactin, làm giảm các triệu chứng và có khả năng phục hồi khả năng sinh sản. Các loại thuốc này có thể được sử dụng kéo dài nhiều tháng hoặc nhiều năm.
Nếu điều trị bằng thuốc không có hiệu quả, người bệnh sẽ được chỉ định phẫu thuật cắt bỏ khối u sản xuất thừa prolactin có kích thước lớn. Việc phẫu thuật đòi hỏi tỷ mỷ và cần phải được thực hiện bởi những bác sĩ phẫu thuật có kinh nghiệm. Lưu ý điều trị bằng thuốc hoặc phẫu thuật, khối u sản xuất thừa prolactin vẫn có thể tái phát.
Để điều trị hiệu quả bệnh prolactin cao ngoài việc dùng thuốc cần kết hợp với chế độ ăn uống. Phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn xin giới thiệu chế độ ăn uống thích hợp cho người có chỉ số prolactin cao. Một chế độ ăn uống cân bằng, lành mạnh sẽ giảm nồng độ prolactin cao.
Nên ăn những thực phẩm tự nhiên chưa qua chế biến, đông lạnh. Nên ăn các sản phẩm từ thực vật như trái cây, rau, ngũ cốc, đạu, hạt và quả hạch. Ăn các loại rau và trái cây giàu chất xơ, vitamin và khoáng chất, chất chống oxy hóa bảo vệ các tế bào khỏi những thương tổ. Ngoài ra các loại rau, trái cây này còn làm tăng nồng độ setotonin trong não.
Có thể ăn nhiều protein: (Các thực phẩm giàu protein như: cá, trứng, đậu, phô mai, thịt gà, các loại thịt đỏ) Protein giúp cung cấp axit amin cần thiết cho việc sản xuất dopamine trong não
Các loại trái cây giúp cải thiện chỉ số prolactin cao bao gồm
Chuối: Chuối chín cung cấp một lượng lớn tyrosine (giúp tế bào thần kinh giúp điều chỉnh và kích thích sản xuất dopamine)
Táo: Táo rất giàu quercetin, một chất chống oxy hóa giúp ngăn ngừa ung thư và sản xuất dopamine.
Dưa hấu: Nước dưa hấu có chứa nhiều vitamin A, B6, C. Trong đó vitamin B6 giúp sản xuất và dẫn truyền thần kinh như serotonin, melatonin, và dopamine giúp giảm chỉ số prolactin. Ngoài ra vitamin C giúp tăng cường hệ thống miễn dịch cho cơ thể.
Một số loại trái cây giúp cải thiện chỉ số prolactin: dâu tây, quả việt quất, quả mận khô
Cung cấp đủ lượng nước cho cơ thể
Đồ ăn nhiều đường
Đồ ăn nhiều dầu mỡ (đồ ăn rán, nướng, cháy)
Ngoài chế độ ăn uống, để cải thiện chỉ số prolacin cần kết hợp chế độ nghỉ ngơi hợp lý, tập thể dục đều đặn.
Theo thaythuoccuaban.com tổng hợp
]]>
Chửa ngoài tử cung
ĐẠI CƯƠNG
Chửa ngoài tử cung có xu hướng tăng lên trong những thập niên gần đây. Người ta quan sát thấy hiện tượng này ở hầu hết mọi nước. Hiện nay người ta ưốc tính tỷ lệ chửa ngoài tử cung chiếm khoảng 1,3% số thai nghén (trước đây tỷ lệ này là 58%). Tỷ lệ chửa ngoài tử cung tăng lên có liên quan đến một số nguyên nhân như:
Nguy cơ tử vong mẹ vì chửa ngoài tử cung cao gấp 10 lần so với đẻ thường, cao gấp 50 lần so với nạo hút thai. Chẩn đoán sớm chửa ngoài tử cung có ý nghĩa rất lón không chỉ đối vói tính mạng người mẹ mà còn có khả năng bảo tồn vòi trứng, giữ gìn khả năng sinh đẻ của ngưòi phụ nữ.
Chửa ngoài tử cung là dấu hiệu báo hiệu tương lai sinh sản khó khăn của người phụ nữ. Thực vậy 1/3 số trường hợp chửa ngoài tử cung gặp ở ngưòi chưa đẻ và 50% số trường hợp này sẽ bị vô sinh.
Định nghĩa: chửa ngoài tử cung là trường hợp thai không làm tổ ở trong buồng tử cung. Như vậy chửa ngoài tử cung có thể gặp ở nhiều vị trí khác nhau, tuy nhiên có tới hơn 95% số trường hợp chửa ngoài tử cung xảy ra ở vòi trứng. Ngoài ra có thể gặp chửa trong ổ bụng, chửa ở ống cổ tử cung.
NGUYÊN NHÂN
Bảng 27.1. Một số yếu tố nguy cơ của chửa ngoài tử cung (theo tác giả Fernandez – Pháp)
| Tiền sử | Độ hiểm tương dối |
| Phẫu thuật bảo tồn vòi trứng trong chửa ngoài tử cung | 3,9 |
| Phẫu thuật tạo hình vòi trứng | 2,42 |
| Nghiện thuốc lá | 1,26-2,42 |
| Kích thích phóng noãn | 1,66 |
| Nhiễm Chlamydia | 1,50 |
| Dụng cụ tử cung | 1,34 |
| Cắt ruột thừa | 1,25 |
Các yếu tố chức năng làm trứng chậm di chuyển về buồng tử cung
GIẢI PHẪU BỆNH
Phản loại theo vị trí giải phẫu
Chửa ở vòi trứng hay gặp nhất, có thể gặp ở các đoạn:
Spiegelberg đã đưa ra các tiêu chuẩn cho phép chẩn đoán chửa ở buồng trứng:
Trứng có thể phát triển ở bất kỳ phần nào của vòi trứng: Gây ra chửa ngoài tử cung ở đoạn bóng, đoạn eo và đoạn kẽ của vòi trứng. Các vị trí khác của chửa ngoài tử cung hiếm gặp hơn như: loa vòi trứng, buồng trứng, dây chằng rộng và chửa trong ổ bụng. Chửa ngoài tử cung ở đoạn kẽ vòi trứng (đoạn vòi trứng nằm trong bề dày của lóp cơ tử cung) chỉ chiếm khoảng 3% số trường hợp chửa ngoài tử cung, tiên lượng thường nặng vì khó chẩn đoán, xử trí cũng hay gặp phải khó khăn. Trứng luôn có xu hướng đào sâu xuông để làm tổ. Vòi trứng không có lớp dưới niêm mạc. Lớp nguyên bào nuôi của trứng chế tiết men ăn mòn tổ chức xung quanh, xâm nhập và phá huỷ lớp cơ của vòi trứng. Quá trình này kèm theo ăn thủng các mạch máu của mẹ dẫn đến làm chảy máu ở các mức độ và các hình thái khác nhau. Với cấu tạo của mình vòi trứng không thể giãn ra kịp theo sự phát triển nhanh chóng của trứng. Hậu quả làm cho vòi trứng bị vỡ, gây chảy máu trong ổ bụng, thai thường bị chết hay không thể phát triển được.
Các thay đổi ở tử cung
Do các biến đổi nội tiết khi có thai làm cho tử cung biến đổi như một trường hợp thai nghén sớm. Cổ tử cung mềm, tím, eo tử cung mềm. Kích thước tử cung to lên chút ít, tất nhiên là không tương xứng với tuổi thai. Nội mạc tử cung chịu các thay đổi như khi có thai nhưng không có các nguyên bào nuôi, không có lông rau là dấu hiệu đã được Arias-Stella mô tả (năm 1954) giúp cho chẩn đoán chửa ngoài tử cung. Hiện tượng thay đổi tế bào của nội mạc tử cung là không đặc hiệu cho chửa ngoài tử cung, có thể gặp cả chửa trong tử cung cũng như chửa ngoài tử cung. Ra máu âm đạo một phần do thoái hoá màng rụng (thai chết, nội tiết giảm đi làm thoái hoá màng rụng), một phần có thể do máu chảy từ thương tổn của vòi trứng. Người ta đã thấy rằng không tìm thấy màng rụng cũng không thê loại trừ được chửa ngoài tử cung. Romney (1950) tìm thấy 40% chửa ngoài tử cung có nội mạc tử cung ở pha chê tiết, 30% ở pha phát triển, 6% ở giai đoạn đang hành kinh và chỉ có 20% thấy có màng rụng.
Diễn biến tự nhiên của chửa ngoài tử cung
Vỡ vòi trứng có thể gặp ở bất kỳ đoạn nào của vòi trứng. Tuỳ vị trí trứng làm tổ, thời điểm vòi trứng bị võ có thể xảy ra sớm hay muộn. Thông thường những nơi vòi trứng hẹp sẽ bị vỡ sớm hơn. Vòi trứng vỡ gây lụt máu ổ bụng, ngưòi bệnh nhanh chóng lâm vào tình trạng choáng nặng đe doạ tính mạng. Tình trạng khẩn cấp bắt buộc phải xử trí phẫu thuật mở bụng ngay để cầm máu và hồi sức bồi phụ lại thể tích tuần hoàn.
Sẩy qua loa vòi trứng: trứng bong ra khỏi chỗ cắm ở vòi trứng, bị đẩy qua loa vòi vào ổ bụng, sẩy qua loa vòi trứng là hình thái hay gặp của chửa ngoài tử cung ở đoạn loa hay đoạn bóng vòi trứng. Hậu quả của sẩy qua loa vòi là chảy máu trong ổ bụng. Máu chảy từ chỗ trứng bị bong ra, mạch máu của thành vòi trứng bị hở. Có thể gặp trường hợp trứng bị sẩy hoàn toàn, máu chảy không nhiều lắm rồi tự ngừng, các triệu chứng mất đi.
Thể huyết tụ: từ chỗ trứng bị bong, máu có thể chảy ri rả, ít một qua loa vòi, tích tụ lại hình thành nên những khối huyết tụ. Khối huyết tụ này đôi khi rất to, được mạc nối, các quai ruột bao vây lại tạo thành khối huyết tụ thành nang. Trường hợp loa vòi bị tắc nghẽn, máu không chảy vào ổ bụng, ứ đọng ngay tại vòi trứng làm cho vòi trứng giãn to và chứa đầy máu tạo thành ứ máu vòi trứng. Người ta đã mô tả những mảnh rau của trứng còn sót, dính vào thành vòi trứng, tỏ huyết bao xung quanh, tiếp tục phát triển tạo thành polyp rau giông như polyp rau ở tử cung.
Chửa trong ổ bụng có thể tiên phát hay thứ phát sau sẩy qua loa vòi trứng. Chửa trong ổ bụng rất hiếm gặp (không đến 1% số trường hợp chửa ngoài tử cung). Thai bị chết giữa chừng ở đa số các trường hợp chửa trong ổ bụng, đôi khi có trường hợp thai sống và phát triển đến đủ tháng.
Một số tình huống hiếm gặp như chửa trong dây chằng rộng (vòi trứng bị vỡ vào giữa hai lá của dây chằng rộng, có thể tạo thành khối máu tụ trong dây chằng rộng), chửa ngoài tử cung kết hợp với chửa trong tử cung, chửa đa thai ngoài tử cung…
TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
– Chậm kinh: Khoảng 1/3 số người bệnh không có hay không rõ dấu hiệu chậm kinh. Nhiều khi rất khó phân biệt giữa ra máu âm đạo vì chửa ngoài tử cung với kinh nguyệt. Luôn luôn lưu ý hỏi kỹ lần hành kinh cuối: thời điểm thấy kinh, số ngày, lượng máu kinh, tính chất máu kinh… hy vọng phân biệt được ra máu âm đạo với kinh nguyệt.
– Ra máu âm đạo: Vì bong nội mạc tử cung do chức năng nội tiết của rau không hoàn chỉnh hoặc do trứng bị bong khỏi vòi trứng. Ra máu ít một, xẫm màu, liên tục hay không. Đặc điểm ra máu ít một là quan trọng bởi vì nếu ra máu âm đạo nhiều thường là do sẩy thai.
– Đau bụng: Là triệu chứng luôn có trong chửa ngoài tử cung. Mức độ đau bụng có thể rất khác nhau, vị trí đau có thể là một hay hai bên, bụng dưới hay đau toàn bộ ổ bụng. Đau bụng vì vòi trứng bị căng giãn và nứt vỡ hoặc vì có máu trong ổ bụng kích thích phúc mạc. Đôi khi đau bụng kèm theo mót rặn vì trực tràng bị kích thích, dấu hiệu tương đối có giá trị giúp cho chẩn đoán.
Dấu hiêu toàn thân
– Là biểu hiện của choáng giảm thể tích máu khi vỡ chửa ngoài tử cung, điển hình nhất là thể lụt máu trong ổ bụng. Biểu hiện sớm của choáng trước khi huyết áp tụt là mạch tăng nhanh. Nghiệm pháp đo mạch và huyết áp ở hai tư thê nằm ngửa và ngồi có thể giúp chẩn đoán tình trạng giảm thể tích tuần hoàn trước khi có biểu hiện lâm sàng của choáng. Khi chuyển từ tư thế nằm ngửa sang tư thế ngồi, huyết áp giảm đi và mạch tăng nhanh lên rõ rệt chứng tỏ có hiện tượng giảm thể tích tuần hoàn. Đôi khi người bệnh có thể bị ngất, một dấu hiệu hiếm gặp nhưng có giá trị. Ngất vì quá đau do vòi trứng bị nứt vỡ, vì bị mất máu.
Dấu hiêu thực thể
Khám âm đạo qua mỏ vịt có thể thấy các dấu hiệu chứng tỏ có thai như cổ tử cung tím, đóng kín, chất nhầy ít và và đặc quánh. Đây là các dấu hiệu không hằng định.
Thăm âm đạo: tử cung to hơn binh thường nhưng không to tương xứng với tuổi thai. Do ảnh hưởng bởi nội tiết thai nghén, mật độ tử cung mềm. Sờ nắn thấy khối cạnh tử cung (khoảng 20% số người bệnh), khối này thường mềm, ranh giới không rõ, kích thước có thể khác nhau nhiều. Sờ nắn khối này làm người bệnh đau là một dấu hiệu quan trọng giúp chẩn đoán. Các túi cùng đặc biệt là túi cùng sau đầy và vô cùng đau khi có chảy máu trong. Mỗi khi chạm vào túi cùng sau, người bệnh đau giật nảy người, hất tay ngưòi thầy thuốc ra ngay. Triệu chứng này được gọi là tiếng kêu Douglas. Ở những trường hợp kín đáo hơn, di động tử cung làm cho người bệnh cảm thấy đau.
Bảng 27.2. Tần sô’ xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng của chửa ngoài tử cung
(theo Esposito)
| Đau tiểu khung | 96% |
| Ra máu âm đạo | 83% |
| Mất kinh | 63% |
| Khối cạnh tử cung | 49% |
| Đau khi di động cổ tử cung | 87% |
TRIỆU CHỨNG CẬN LÂM SÀNG
Phản ứng chẩn đoán có thai
Không thể chẩn đoán chửa ngoài tử cung chỉ bằng phản ứng có thai dương tính. Các phản ứng tìm HCG trong nước tiểu phụ thuộc vào ngưõng phát hiện của phản ứng. Người ta thấy rằng phản ứng có ngưỡng từ 500 đến 800 mUI/ml dương tính ở 50 – 60% số người bệnh, phản ứng có ngưỡng 150 – 250 mUI/ml dương tính ỏ 80 – 85% số’ người bệnh bị chửa ngoài tử cung. Xác định PHCG trong máu chính xác hơn nhiều. Trong thực tế không nghĩ đến có thai khi phản ứng này âm tính với ngưỡng phát hiện từ 5 đến 10 mƯI/ml. Trong ba tháng đầu, trung bình lượng PHCG tăng gấp đôi sau 48 giờ. Trong chửa ngoài tử cung, mức độ tăng HCG có vẻ chậm hơn, kết hợp với siêu âm có thể giúp ích cho chẩn đoán.
Bảng 27.3. Giới hạn dưới của mức độ tăng hCG trong thai nghén bình thường ở quí I
| Quãng thời gian (ngày) | Tăng hCG (%) |
| 1 | 29 |
| 2 | 66 |
| 3 | 114 |
| 4 | 175 |
| 5 | 255 |
Siêu âm
Góp phần to lớn trong chẩn đoán chửa ngoài tử cung. Thực tế tìm túi ối ở ngoài tử cung sẽ khó hơn rất nhiều so với không thấy túi ối trong tử cung là bằng chứng nghĩ đến chửa ngoài tử cung (HCG dương tính). Hình ảnh siêu âm thường thấy là không có túi ối trong buồng tử cung, có khối cạnh tử cung và có thể có dịch ở túi cùng Douglas. Máu và màng rụng đọng lại trong buồng tử cung nhiều khi rất giống hình ảnh túi ối hay thai chết lưu (hình ảnh túi ối giả). Thời điểm để siêu âm đường bụng nhìn thấy túi ối trong tử cung là khoảng 6 tuần (chậm kinh 2 tuần), siêu âm đường âm đạo có thể nhìn thấy túi 01 sớm hơn khoảng 5 ngày. Liên quan với nồng độ HCG, người ta thấy rằng nhìn thấy túi ôì trong tử cung qua siêu âm đường bụng khi PHCG đạt 3000 – 3500 mUI/ml, qua siêu âm đường âm đạo khi (PHCG đạt 1000 – 2000 mUI/ml. Khi chưa đên các thòi điểm này hay ở dưới các giới hạn này, không quan sát thấy túi ối trong buồng tử cung là bình thường. Đó là quãng thời gian siêu âm không giúp ích gì cho chẩn đoán. Siêu âm có thể bị nhầm với trường hợp sẩy thai bởi vì không nhìn thấy túi ối trong buồng tử cung trong khi HCG dương tính.
Một số thăm dò khác
Nạo sinh thiết nội mạc tử cung tìm phản ứng Arias-Stella. Không thể chẩn đoán chửa ngoài tử cung chỉ bằng phản ứng Arias-Stella bởi vì có thể là thai trong tử cung mà không tìm thấy lông rau, nội mạc tử cung có những biên đổi do nội tiết thai nghén gầy ra.
Chọc dò túi cùng sau âm đạo (có thể chọc dò ổ bụng qua thành bụng) hút ra máu không đông chứng tỏ có chảy máu trong ổ bụng. Lưu ý có những trường hợp âm tính hay dương tính giả làm cho thầy thuốc rơi vào tình thế phân vân, khó chẩn đoán.
Soi ổ bụng là một phương pháp cho phép chẩn đoán sớm ở những trường hợp gặp khó khăn, lâm sàng các xét nghiệm khác không rõ ràng. Hơn thế nữa soi ổ bụng còn cho phép điều trị chửa ngoài tử cung vói nhiều ưu thế nổi trội. Tuy vậy soi ổ bụng vẫn có một tỷ lệ âm tính và dương tính giả. Samuellson và Sjvall (1972) báo cáo soi 166 trường hợp chửa ngoài tử cung không chẩn đoán được 4 trường hợp và trong 120 trường hợp thai trong tử cung có 6 trường hợp bị chẩn đoán nhầm thành chửa ngoài tử cung.
CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Chửa ngoài tử cung rất dễ bị nhầm với nhiều bệnh lý khác. Nhiều trường hợp khó, phải thăm khám nhiều lần, theo dõi và phải nhờ vào các thăm dò hiện đại mói cho phép chẩn đoán xác định được.
Sẩy thai, doạ sây thai
Đều có các dấu hiệu có thai (chậm kinh, tử cung to hơn bình thường, phản ứng chẩn đoán thai dương tính…), đau bụng, ra máu… Trong sẩy thai, đau bụng thường ít hơn, theo kiểu cơn co, ra máu nhiều hơn, máu đỏ tươi. Tình trạng choáng nếu có trong sẩy thai tỷ lệ với mức độ ra máu âm đạo, trái lại trong chửa ngoài tử cung tình trạng choáng rất hay gặp đặc biệt là trong các trường hợp vỡ chửa ngoài tử cung. Trước đó nếu làm siêu âm, đã quan sát thấy hình ảnh túi 01 trong buồng tử cung đối với trường hợp sẩy thai, doạ sẩy thai.
Viêm phần phụ
Rất dễ bị nhầm với chửa ngoài tử cung. Người bệnh bị ra máu âm đạo bất thường, đau bụng vùng hạ vị. Bụng có phản ứng, đau nhiều khi thăm trong, khi di động tử cung. Một số dấu hiệu chứng tỏ tình trạng nhiễm khuẩn: sốt, bạch cầu tăng cao… giúp chẩn đoán phân biệt. Các phản ứng tìm HCG trong nước tiểu âm tính không cho phép loại trừ chửa ngoài tử cung. Chỉ có định lượng PHCG mới cho phép loại trừ chẩn đoán. Có thể sử dụng soi ổ bụng như một phương pháp chẩn đoán và điều trị kể cả trường hợp viêm phần phụ cấp tính (xác định chẩn đoán, đánh giá mức độ thương tổn, tìm nguyên nhân gây bệnh và rửa ổ bụng).
Vỡ hoàng thể thay nang noãn
Có thể gây chảy máu trong ổ bụng ở một sô trường hợp. Đôi khi chảy máu khá nhiều làm cho người bệnh rơi vào tình trạng choáng rõ rệt. Những trường hợp này buộc phải phẫu thuật để cầm máu và rửa ổ bụng, hầu hêt cũng chỉ chẩn đoán được sau khi đã mở bụng.
Khối u buồng trứng
Đặc biệt là khi có biến chứng (xoắn, chảy máu trong nang, vỡ nang…): ngưòi bệnh không có dấu hiệu chậm kinh, phản ứng thai nghén âm tính, thăm trong thấy khôi cạnh tử cung. Siêu âm có thể giúp chẩn đoán xác định.
Viêm ruột thừa
Đau ở hố chậu phải, đau liên tục, không nhiều, có sốt, đôi khi có rối loạn tiêu hoá. Phản ứng thai nghén âm tính, bạch cầu trong máu tăng cao.
CÁC THỂ LÂM SÀNG
Thể chửa ngoài tử cung chưa vỡ
Ngưòi bệnh có chậm kinh, ra máu ám đạo, phản ứng có thai dương tính. Dấu hiệu đau bụng không nổi bật, không thật rõ ràng. Toàn thân hoàn toàn bình thường. Khi thăm trong có thể nắn thấy khối cạnh tử cung kèm theo đau rất nhạy cảm và khu trú rõ ràng. Các túi cùng thường không đau. Một hình thái chửa ngoài tử cung chưa vỡ khác cũng hay gặp, đó là chửa ngoài tử cung ở những người bệnh đã được “hút gió” hay “nạo gió”. Người bệnh chậm kinh (thai ngoài ý muốn) đi hút hay nạo thai. Trước, trong và sau hút hay nạo không chẩn đoán được chửa ngoài tử cung. Sau thủ thuật, người bệnh bị ra máu âm đạo kéo dài, đau bụng, nghén… Mọi điều trị nội khoa không có kết quả. Soi ổ bụng là biện pháp tốt nhất đê chẩn đoán và điều trị chửa ngoài tử cung chưa vỡ. Chẩn đoán chửa ngoài tử cung chưa võ là một chẩn đoán sóm, cho phép thực hiện các biện pháp điều trị tối Ưu, bảo tồn tối đa khả năng sinh đẻ và an toàn tính mạng của người bệnh.
Thể lụt máu ổ bụng
Bệnh cảnh nổi bật là choáng nặng do chảy máu trong, triệu chứng xuất hiện đột ngột, nhanh chóng. Bụng trướng, ấn đau khắp bụng. Tình trạng này đòi hỏi khẩn trương tiến hành hồi sức, nhanh chóng bồi phụ thể tích tuần hoàn đã mất và mở bụng cầm máu. Có những trường hợp lụt máu trong ổ bụng, quá trình chảy máu diễn ra từ từ, người bệnh phần nào thích ứng được nên các dấu hiệu choáng tụt huyết áp không nổi rõ.
Thể giả sẩy của chửa ngoài tử cung
Nội mạc tử cung chịu ảnh hưởng của nội tiết thai nghén, màng rụng hoá, dày lên. Khi có những biên đổi nội tiết, toàn bộ nội mạc tử cung bong ra và bị tông ra ngoài làm cho rất dễ nhầm với sẩy thai, bỏ sót chửa ngoài tử cung. Mảnh nội mạc tử cung dày và to khi đi qua cổ tử cung làm cho cổ tử cung hé mở. Tử cung phải có các cơn co để tống mảnh tổ chức ra ngoài làm người bệnh bị đau bụng từng cơn, hêt đau khi mảnh tổ chức bị tống ra. Xét nghiệm giải phẫu bệnh tổ chức rơi ra hay nạo ra thấy hình ảnh màng rụng, không thấy lông rau, có hình ảnh Arias Stella.
Thể huyết tụ thành nang
Máu chảy ri rỉ, ít một và đọng lại. Sau đó ruột, các tạng khác và mạc nôi phản ứng bao bọc lại tạo thành khối huyết tụ. Chẩn đoán thường khó vì triệu chứng không điển hình, rong huyết, sốt nhẹ, thiếu máu, vàng da nhẹ do tan máu ở khối huyết tụ. Xuất hiện các triệu chứng của đường tiêu hoá (bán tắc ruột, kích thích trực tràng hay táo bón…), của đường tiết niệu (viêm bàng quang do kích thích…). Trước đó người bệnh có giai đoạn chậm kinh, rong huyết, đau bụng. Thăm khám thấy một khối không rõ ranh giới, ấn đau, ít di động, dính vào tử cung làm khó phân biệt tử cung. Phản ứng thai nghén có thể âm tính. Siêu âm thấy hình ảnh khối u tiểu khung với một vùng âm vang tăng nhẹ, không đều, giới hạn không rõ. Chọc dò có hút ra máu đen lẫn cặn.
Chửa ở buồng trứng
Thường chỉ chẩn đoán được sau khi đã mở bụng hay nội soi. Năm 1878, Spiegelberg đả đưa ra các tiêu chuẩn để chẩn đoán chửa ở buồng trứng: vòi trứng bên đó không có thương tổn, túi thai nằm ở buồng trứng, buồng trứng liên quan với tử cung qua dây chằng tử cung-buồng trứng, tìm thấy tổ chức buồng trứng ở thành túi thai.
Chửa trong ổ bụng
Có thể là nguyên phát hay thứ phát, thai có thể phát triển đến đủ tháng. Theo một nghiên cứu ở Mỹ, tỷ lệ chửa trong ổ bụng là khoảng 10/100.000 trường hợp đẻ. Tiền sử vô sinh rất đáng chú ý, chiếm gần 50% số trường hợp chửa trong ổ bụng. 3/4 số trường hợp có dấu hiệu đau bụng không rõ nguyên nhân, không giảm đi khi điều trị bằng các thuốc giảm co hay nằm nghỉ. Ra máu âm đạo (khoảng 1/3 số trường hợp), tắc ruột, bán tắc ruột không thường xuyên. Sờ nắn có thể thấy thai ở ngay dưới da bụng, đặc biệt không bao giò thấy có cơn co tử cung. Tuyệt đại đa số là ngôi thai bất thường, rất hay gặp thai ở tư thế ngang. Siêu âm có thể thấy khối thai, khối rau ở bên cạnh khối tử cung nhỏ. Có tới 1/2 số trường hợp không chẩn đoán được trước khi mổ.
Chửa ống cổ tử cung
Hiếm gặp, thai làm tổ ở phía dưới lỗ trong cổ tử cung. Theo nhận xét của chúng tôi chửa ống cổ tử cung có phần gặp nhiều hơn so với chửa trong ổ bụng. Hậu quả không thể tránh được là thai bị chết, rau cài răng lược, ăn sâu vào lớp cơ ở cổ tử cung, khi rau bong dở dang làm cho máu chảy không thể tự cầm được, máu chảy dữ dội thường buộc phải cắt tử cung để cầm máu. Thai nghén thường kết thúc trước 20 tuần. Triệu chứng nghèo nàn, không đặc hiệu, hầu hêt được chẩn đoán là thai chết lưu hoặc sẩy thai. Thăm khám có thể thấy dấu hiệu cổ tử cung bị phình ra một cách bất thường, rất dễ bị nhầm với cổ tử cung đang xoá (cổ tử cung hình con quay) trong dọa sẩy thai. Nạo không cầm được máu, thường phải tiến hành cắt tử cung.
Phối hợp chửa trong tử cung với chửa ngoài tử cung
Cổ điển sự phối hợp này vô cùng hiếm gặp (1/30000 trưòng hợp có thai). Ngày nay hình như nhiều hơn gặp trong các trường hợp kích thích gây phóng noãn, thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Trên siêu âm thấy có túi ối trong buồng tử cung làm cho chúng ta “yên tâm một cách sai lầm”.
ĐIỀU TRỊ
Chửa ngoài tử cung thể lụt máu trong ổ bụng
Buộc phải tiến hành đồng thời việc hồi sức tích cực, nhanh chóng bồi phụ thể tích tuần hoàn đã bị mất cùng với việc mở bụng để cầm máu. Không bắt buộc phải chờ đợi khi huyết áp lên mới mở bụng, cần có các đường truyền an toàn, chắc chắn để đưa máu và dịch thay thế máu vào. Khi mở bụng nhanh chóng tìm chỗ chảy máu để cầm máu. Trong hoàn cảnh này, mục đích trên hết là cứu sống người bệnh, vì vậy không đặt ra vấn đề điều trị bảo tồn vòi trứng đã vỡ. Cách xử trí là cắt vòi trứng cầm máu. Hồi sức trong chửa ngoài tử cung thể lụt máu thường cho kết quả rất tốt, rối loạn đông máu có thể xảy ra nhưng không nặng nề lắm. Luôn luôn lưu ý đình sản vòi trứng còn lại nếu có chỉ định (đủ con, lớn tuổi, có thương tổn…) bởi vì khả năng bị chửa ngoài tử cung ở vòi trứng còn lại là cao.
Chửa ngoài tử cung chưa vỡ hay rỉ máu
Cách xử trí có thể là điều trị bảo tồn vòi trứng hay cắt vòi trứng tuỳ từng trường hợp. Chỉ định bảo tồn hay cắt vòi trứng phụ thuộc vào các yếu tố như: nhu cầu sinh con, thương tổn tại chỗ và thương tổn của vòi trứng bên đối diện, khả năng phẫu thuật viên, trang thiết bị… Phẫu thuật có thể là mở bụng như cổ điển hay phẫu thuật nội soi. Trong khi mở bụng người ta có thể tiến hành cắt vòi trứng, bảo tồn vòi trứng bằng cách rạch dọc bờ tự do vòi trứng để lấy khối thai sau đó cầm máu và không khâu lại vết rạch vòi trứng (salpingostomy) hay có khâu lại vết rạch vòi trứng (salpingotomy). Có thể tiến hành cắt đoạn vòi trứng và nối lại khi phẫu thuật viên có đầy đủ kinh nghiệm, có trang thiết bị và phần vòi trứng còn lại phải có độ dài trên 4cm. Trong kỹ thuật khâu, hầu hết các tác giả khuyến cáo khâu một lớp, mũi rời bằng chỉ tiêu (vicryl 7 – 0 hay 8 – 0). Nội soi có vị trí rất quan trọng trong các trường hợp này vì đây là những chỉ định gần như lý tưởng của nội soi và vì tính ưu việt của nội soi. Bên cạnh điều trị, nội soi còn vai trò chẩn đoán xác định trong những trường hợp khó, không rõ ràng. Trong nội soi có thể tiên hành kỹ thuật cắt vòi trứng có khối chửa hay bảo tồn vòi trứng. Bảo tồn vòi trứng là rạch dọc bờ tự do của vòi trứng hay lấy khối thai, tiến hành cầm máu, không cần thiết phải khâu lại vòi trứng. Phẫu thuật nội soi bị chống chỉ định trong các trường hợp sau:
Chống chỉ định điều trị bảo tồn vòi trứng qua nội soi:
+ Tuyệt đối: . chống chỉ định chung của gây mê hồi sức trong nội soi khi có tình trạng choáng
kích thước khối chửa trên 6cm, lượng HCG ban đầu lớn hơn 20000 IU/1
+ Tương đối: có dấu hiệu chảy máu cấp, béo bệu, dính nhiều ở tiểu khung, kích thước khối chửa trên 4cm, chửa ở đoạn kẽ vòi trứng
Chống chỉ định điều trị triệt để cắt vòi trứng qua nội soi:
+ Tuyệt đối: chống chỉ định chung của gây mê hồi sức: khi có tình trạng choáng, chửa ở đoạn kẽ vòi trứng.
+ Tương đối: béo bệu, dính nhiều ở tiểu khung, huyết tụ thành nang
Tuy nhiên việc lựa chọn phương pháp bảo tồn hay cắt vòi trứng còn phụ thuộc vào kinh nghiệm của từng phẫu thuật viên.
Chửa ngoài tử cung thể huyết tụ thành nang
Có chỉ định mổ để tránh vỡ thứ phát hay bị nhiễm khuẩn. Khi vào ổ bụng thường rất dính, tìm cách đi vào ổ máu tụ để lấy hết máu tụ, lau rửa sạch khoang chứa máu và khâu ép các thành của khoang lại với nhau. Dẫn lưu khi cần thiết.
Các thể chửa ngoài tử cung hiếm gặp
Chửa trong ổ bụng: nên mổ khi thai nhỏ dưói 32 tuần dù là thai sống vì nếu để thêm sẽ khó tiên lượng diễn biến của bệnh. Tuổi thai trên 32 tuần có thể theo dõi thêm trong trường hợp thai sống. Một khi thai đã bị chết lưu cũng phải mổ lấy thai nhưng không nên vội vàng, bởi vì thai chết bánh rau cũng sẽ bị chết, cung lượng tuần hoàn nuôi dưõng bánh rau giảm đi, các mạch máu bị tắc nghẽn lại, giảm bớt khó khăn trong lúc phẫu thuật. Khó khăn khi phẫu thuật chửa trong ổ bụng là thái độ xử trí bánh rau. Các tác giả đều nhất trí nên để bánh rau lại tại chỗ. Sau này bánh rau sẽ tiêu dần đi, thời gian tiêu mất vài tháng. Có tác giả đề nghị dùng methotrexat tác dụng lên nguyên bào nuôi để làm cho bánh rau tiêu nhanh hơn. Đôi khi lấy thai ra làm cho bánh rau bị bong ngay gây chảy máu rất khó cầm. Giải pháp tình thế lúc này là chèn gạc thật chặt để cầm máu tạm thòi. Rút dần các gạc này trong những ngày sau mổ. Chửa trong ổ bụng vẫn còn là một biến chứng khủng khiếp của sản khoa. Chẩn đoán sớm và diều trị triệt để chửa ngoài tử cung trong 3 tháng đầu là phương pháp tôt nhất để tránh bệnh lý này.
Chửa ở ống cổ tử cung khi đã chảy máu do nạo (không chẩn đoán được trước khi nạo), do sẩy thai đều buộc phải mở bụng để cắt tử cung cầm máu. Kỹ thuật cắt tử cung hay gặp khó khăn vì cổ tử cung phình to, máu chảy từ cổ tử cung nên nhiều khi phải cắt cả cổ tử cung mới cầm được máu. Hai niệu quản bắt chéo động mạch tử cung ở ngay khu vực này. Trong lúc phẫu thuật cấp cứu rất dễ gây ra thương tổn cho niệu quản. Nêu chẩn đoán được ngưòi ta đề nghị áp dụng kỹ thuật như khâu vòng cổ tử cung (kỹ thuật McDonald) để cầm máu rồi mới lấy thai và rau.
Một số kỹ thuật khác điểu trị chửa ngoài tử cung
Điểu trị nội khoa: chỉ định trong trường hợp khối chửa có kích thước dưới 3,5cm, không có hoạt động của tim thai.
+ Dùng methotrexat toàn thân: thuôc chông phân bào này có tác dụng ức chê nguyên bào nuôi phát triển làm cho nguyên bào nuôi bị tiêu đi. Tiêm bắp 20 đên 40 mg methotrexat, tiêm hai lần cách nhau 48 giò. Theo dõi phCG thấu nồng độ cứ 48 giờ tụt đi một nửa chứng tỏ khỏi bệnh. Ngừng theo dõi khi nồng độ phCG dưới 10 miu/ml.
+ Điều trị tại chỗ bằng cách tiêm vào phôi các chất phá huỷ phôi. Người ta có thể dùng methotrexat, KC1… tiêm vào phôi dưói hưóng dẫn của siêu âm đường âm đạo. Điều kiện của cách điều trị này là phải chẩn đoán thật chắc chắn, nhìn thấy túi phôi qua siêu âm, không có chảy máu trong ổ phúc mạc và nồng độ phCG không cao.
Sau điều trị phải theo dõi sát nồng độ phCG vì có 5% đến 20% số trường hợp bị thất bại với kỹ thuật này buộc phải phẫu thuật.
Theo dõi không can thiệp gì nếu lượng PHCG rất thấp và giảm đi sau mỗi lần xét nghiệm theo dõi.
| Điểm | 1 | 2 | 3 |
| Số ngày chậm kinh | 49 | 42-49 | <42 |
| ßhCG (miu/ml) | < 1000 | 1000-5000 | > 5000 |
| Progesteron (ng/ml) | < 5 | 5 – 10 | > 10 |
| Đau | không | khi kích thích | tự nhiên |
| Khối vòi trứng (cm) | < 1 | 1 -3 | > 3 |
| Chảy máu trong phúc mạc (ml) | < 10 | 10- 100 | > 100 |
Có thể dựa vào bảng điểm của Fernandez để chỉ định điều trị nội khoa. Chỉ số này dưới 13 điểm có thể tiến hành điều trị nội khoa. Trong trường hợp chỉ sô trên 13 điểm buộc phải chỉ định điều trị ngoại khoa.
Chửa ngoài tử cung vẫn còn là nguyên nhân gây tử vong mẹ. Tương lai sinh đẻ của những phụ nữ đã bị mổ chửa ngoài tử cung là rất khó khăn: 50% bị vô sinh và 15% bị tái phát chửa ngoài tử cung. Phẫu thuật bảo tồn vòi trứng dù tỷ lệ thành công còn thấp đã mở ra một hưống thoát cho
]]>Âm hộ gồm tất cả những phần bên ngoài nhìn thấy được từ xương vệ (xương mu) đến tầng sinh môn.
Vùng mu (đồi vệ nữ): là lớp tổ chức mỡ nằm trên xương vệ có lông bao phủ bên ngoài.
Âm vật: tương đương với dương vật ở nam giới nhưng không có thể xốp và không có niệu đạo nằm trong. Âm vật dài khoảng 1-2 cm.
Hai môi lớn: ở hai bên âm hộ, nối tiếp với đồi vệ nữ đến vùng tầng sinh môn.
Hai môi nhỏ: là hai nếp gấp của da ở trong 2 môi lớn.
Lỗ niệu đạo: nằm ở dưới âm vật, hai bên lỗ niệu đạo có tuyến Skène.
Màng trinh và lỗ âm đạo: màng trinh có nhiều dạng khác nhau, có nhiều đầu dây thần kinh cảm giác, không có sợi cơ trơn, che ống âm đạo bên trong, chỉ chừa một lỗ nhỏ ở giữa để máu kinh nguyệt ra ngoài. Hai bên lỗ âm đạo có tuyến Bartholin, có nhiệm vụ tiết dịch giúp âm đạo không bị khô.
Âm hộ, cấu tạo bộ phận sinh dục nữ
Âm đạo là ống cơ trơn nối âm hộ đến cổ tử cung, nằm giữa niệu đạo và bàng quang ở phía trước, trực tràng ở phía sau. Âm đạo có chiều dài khác nhau giữa các thành: thành trước 6,5 cm, thành sau 9,5 cm, 2 thành bên 7,5 cm. Khi đẻ, âm đạo có thể giãn rộng để thai nhi đi qua được.
Niêm mạc âm đạo thường có nhiều nếp nhăn ngang, chịu ảnh hưởng của các nội tiết tố nữ, thường hơi ẩm do dịch tiết từ cổ tử cung và buồng tử cung ra.
Âm đạo, cấu tạo bộ phận sinh dục nữ
Tầng sinh môn hay đáy chậu gồm tất cả các phần mềm, cân, cơ, dây chằng bịt lỗ dưới khung chậu. Tầng sinh môn có dạng hình trám, giới hạn ở phía trước là bờ dưới xương vệ, hai bên là hai ụ ngồi, phía sau là đỉnh xương cụt.
Tầng sinh môn có nhiệm vụ nâng đỡ các cơ quan trong tiểu khung (bàng quang, tử cung, âm đạo, trực tràng). Khi sinh đẻ, tầng sinh môn phải giãn mỏng và mở ra để ngôi thai và các phần của thai thoát ra ngoài. Trong giai đoạn sổ thai, nếu tầng sinh môn không giãn tốt có thể bị rách và có thể tổn thương đến nút thớ trung tâm đáy chậu. Trường hợp tầng sinh môn bị nhão do đẻ nhiều lần hoặc do rách mà không được khâu phục hồi sẽ dễ bị sa sinh dục về sau.
Tử cung là cơ quan tạo thành bởi các lớp cơ trơn dày. Đây là nơi làm tổ và phát triển của trứng đã thụ tinh cho tới khi thai trưởng thành. Khối lượng tử cung thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của người phụ nữ, theo chu kỳ kinh nguyệt và tình trạng thai nghén
Tử cung có dạng hình nón cụt, đáy rộng ở trên, được chia làm 3 phần:
Thân tử cung
Thân tử cung có dạng hình thang, phần rộng ở trên gọi là đáy tử cung, hai góc bên là chỗ ống dẫn trứng thông với buồng tử cung, là nơi bám của hai dây chằng tròn và dây chằng Tử cung – Buồng trứng, gọi là sừng tử cung.
Thân tử cung có chiều dài khoảng 4 cm, chiều rộng khoảng 4-5 cm, trọng lượng khoảng 50 gam (ở những người đẻ nhiều, kích thước tử cung có thể lớn hơn một chút).
Eo tử cung
Eo tử cung là nơi thắt nhỏ lại, tiếp giáp giữa thân tử cung và cổ tử cung, dài khoảng 0,5 cm. Vào tháng cuối của thời kỳ thai nghén và khi chuyển dạ, eo tử cung sẽ giãn ra và trở thành đoạn dưới tử cung.
Cổ tử cung
Cổ tử cung bình thường dài khoảng 2 – 3 cm, rộng khoảng 2 cm. Lúc chưa đẻ cổ tử cung tròn đều, mật độ chắc, lỗ ngoài của cổ tử cung tròn. Khi người phụ nữ đã đẻ, cổ tử cung dẹp lại, mật độ mềm hơn, lỗ ngoài cổ tử cung rộng ra và không tròn như lúc chưa đẻ. Càng đẻ nhiều, lỗ cổ tử cung càng rộng ra theo chiều ngang.
Buồng trứng là cơ quan vừa nội tiết (tiết ra estrogen từ tuổi vị thành niên đến tuổi mãn kinh), vừa ngoại tiết (phóng noãn).
Buồng trứng có hình hạt, dẹt, có hai mặt trong và ngoài, hai đầu trên và dưới, nằm áp vào thành bên của chậu hông, phía sau dây chằng rộng, chếch vào trong và ra trước. Buồng trứng có kích thước khoảng 3,5 cm x 2 cm x 1 cm. Trước tuổi vị thành niên, buồng trứng nhẵn đều.
Ống dẫn trứng là ống dẫn noãn từ buồng trứng tới tử cung, có một đầu mở vào ổ bụng để đón noãn còn đầu kia thông với buồng tử cung. Noãn thường được thụ tinh trong ống dẫn trứng, sau đó mới di chuyển vào buồng tử cung. Nếu vì một lý do nào đó trứng thụ tinh không vào được buồng tử cung, thì trứng sẽ phát triển ở ống dẫn trứng gây nên chửa ngoài tử cung.
Ống dẫn trứng dài 10 -12 cm. Lỗ thông vào buồng tử cung có đường kính khoảng 3 mm, còn lỗ thông vào ổ bụng thì rộng hơn, khoảng 8 mm.
Ống dẫn trứng được chia làm 4 đoạn:
Đoạn kẽ nằm trong thành tử cung dài khoảng 1 cm, chạy chếch lên trên và ra ngoài.
Đoạn eo chạy ngang ra ngoài, dài 3 – 4 cm, đó là chỗ cao nhất của ống dẫn trứng.
Đoạn bóng dài khoảng 7 cm, chạy dọc theo bờ trước của buồng trứng.
Đoạn loa toả ra như hình phễu, có khoảng 10 – 12 tua, mỗi tua dài 1 – 1,5 cm. Tua dài nhất là tua Richard dính vào dây chằng ống dẫn trứng – buồng trứng, hứng noãn bào chạy vào ống dẫn trứng.
(Theo Lương y Nguyễn Hữu Toàn)
]]>

Tắc vòi trứng gây vô sinh ở nữ
Vô sinh do tắc vòi trứng
Tắc vòi trứng là tình trạng vòi trứng bị chít hẹp, cản trở sự di chuyển của trứng về tử cung. Vòi trứng bị tắc cản trở tinh trùng và trứng di chuyển đến gặp nhau dẫn đến vô sinh. Hoặc trứng đã gặp tinh trùng ở vòi trứng nhưng không thể di chuyển về tử cung để làm tổ mà phát triển ngay tại vòi trứng, gây thai ngoài tử cung. Nhưng vòi trứng không phải là nơi thích hợp để thai phát triển, không thể giãn to theo sự tăng trưởng của thai, vì thế gây cảm giác đau và có thể vỡ. Nếu vỡ vòi trứng thì là một biến chứng chảy máu nghiêm trọng, có thể dẫn đến tử vong nếu không được mổ kịp thời và được truyền máu.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn tứi tắc vòi trứng vẫn là do nhiễm khuẩn âm đạo, cổ tử cung lan ngược lên trên gây viễm nhiễm phần phụ hoặc do lạc nội mạc tử cung. (xem thêm bài “viêm âm đạo”, “viêm phần phụ”, “lạc nội mạc tử cung”).
Bệnh thường gặp ở những người có tiền sử nạo hút thai, quan hệ tình dục không an toàn, không giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, đặt dụng cụ tử cung tránh thai…
Tắc vòi trứng không có biểu hiện trên lâm sàng nên khó nhận biết sớm. Có một số trường hợp biểu hiện bằng đau bụng kinh do có tắc – viêm gây co thắt và đau. Nhưng dấu hiệu này không đặc hiệu.
Chẩn đoán xác định tắc vòi trứng dựa vào chụp X-quang tử cung, vòi trứng, buồng trứng có bơm chất cản quang; siêu âm, nội soi tử cung, buồng trứng.
Điều trị nội khoa hiếm muộn do tắc vòi trứng như bơm hơi vòi trứng hoặc dùng thuốc kháng viêm corticoid kết hợp với kháng sinh bơm vào vòi trứng có thể giải quyết được 8 – 10% số trường hợp. Đa phần cần phải phẫu thuật dưới kính hiển vi hoặc qua soi ổ bụng, soi buồng tử cung để gỡ dính, lấy nhân dưới niêm mạc tử cung, cắt vách ngăn tử cung… để mở thông, nối 2 đầu vòi trứng, tái tạo vòi trứng…
Nhưng các biện pháp này cũng chỉ mang tính tạm thời. Sau phẫu thuật vòi trứng vẫn tắc trở lại và khả năng có thai lại sau khi mở thông và tái tạo còn phụ thuộc vào mức độ tổn thương lớp niêm mạc bên trong vòi trứng.
Đa số khi phát hiện bệnh nhân tắc vòi trứng bác sĩ thường hướng cho bệnh nhân chuyển sang thụ tinh ống nghiệm vì mổ thông tắc vòi trứng thường không có kết quả tốt, bệnh nhân dễ bị tắc lại, đôi khi gây dính buồng tử cung.
YHCT có khả năng điều trị các trường hợp tắc vòi trứng hiệu quả do làm tăng khả năng tái tạo của lớp niêm mạc bên trong vòi trứng.
Theo Phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn, nguyên nhân bị dính hẹp vòi trứng, tắc vòi trứng là do khí hư, hoặc tử cung hư hàn, làm cho đờm, thấp, huyết trệ, nên sau khi viêm nhiễm cơ thể không đào thải được huyết ứ, dịch độc, tế bào chết ra ngoài, làm vòi trứng dầy dính chít hẹp.Trong mỗi chu kỳ kinh, huyết không thoát ra ngoài hết, một phần nhỏ bị ứ đọng lại trong vòi trứng. Lâu ngày không được thông, chất ứ đọng đó tăng lên gây tắc vòi trứng. Dựa trên nguyên lý trên phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn điều trị tắc vòi trứng bằng việc sử dụng bài thuốc gia truyền giúp chống viêm, hoạt huyết, tác dụng lưu thông khí huyết, đẩy huyết ứ ra ngoài, làm thông vòi trứng. Ngoài ra thuốc còn có tác dụng làm vòi trứng trở nên mềm mại, đàn hồi tốt hơn giúp noãn và trứng di chuyển dễ dàng hơn.
Thực tế điều trị tắc vòi trứng tại phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn cho thấy thời gian điều trị tắc vòi trứng trung bình khoảng 3-4 tháng là có thể thông hoàn toàn. Tỷ lệ này đạt khoảng 80%. Đối với những trường hợp tắc ít, hoặc tắc ở gần đoạn loa vòi trứng thì thời gian uống thuốc điều trị sẽ nhanh hơn, vòi trứng được thông một cách dễ dàng hơn. Tuy nhiên có một số trường hợp bệnh nhân bị viêm tắc vòi trứng, tắc toàn bộ độ dài của vòi trứng, hoặc tắc sừng khi uống thuốc vào, thuốc sẽ có tác dụng thông dần dần, do đó thời gian điều trị có thể phải kéo dài từ 4-5 tháng mới có thể thông hoàn toàn được. Đối với những bệnh nhân bị viêm nhiễm âm đạo dẫn tới viêm ngược dòng lên trên làm tắc vòi trứng nếu không được điều trị sớm, thời gian viêm nhiễm, tắc vòi trứng càng lâu thì thời gian điều trị sẽ lâu hơn do phần viễm nhiễm và tắc nhiều.
Bảng so sánh phương pháp điều trị tắc vòi trứng
Một số trường hợp tắc vòi trứng điều trị tại Phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn
Lương Thị Hồng: số nhà 5/ 37 ngõ 93 phố Nghĩa Dũng Ba Đình Hà Nội
Bệnh án: Lập gia đình hơn 1 năm nay,chưa có cháu nào, đi kiểm tra kết quả tắc vòi trứng bên trái, bên phải thông bình thường. Chu kì kinh nguyệt ko đều 28-35 ngày có kinh 1 lần, lượng kinh 4 ngày sạch kinh, sắc kinh màu đỏ tươi có lúc hơi thâm 1 chút. Tiền sử viêm âm đạo hay bị tái đi tái lại, hiện tại khí hư bình thường, màu trắng trong. Tiền sử bị viêm dạ dày. Ăn ngủ, đại tiểu tiện bình thường. Chị Hồng có đến khám trực tiếp và lấy thuốc về điều trị.
Điều trị: Liệu trình 1: 20 thang + 2 thông ứ: Chưa thấy gì, khí hư ít.
Liệu trình 2: 20 thang + 2 thông ứ: kinh tháng này muộn khoảng 10 ngày, kéo dài 4 ngày, lượng rất ít, chỉ dùng hàng ngày, màu kinh đỏ tươi, có hòn cục, có thâm 1 chút, khí hư có ra ít, màu kem, ko hôi tanh, thi thoảng có ngứa 1 chút, ko nhói bụng dưới.
Liệu trình 3: 20 thang + 2 thông ứ: tháng này lượng ít, màu kinh nhạt, không hòn cục, không đau lưng nhưng có đau ê ẩm bụng dưới, không nhói.
Liệu trình 4: 20 thang+ 2 thông ứ: chưa tới ngày kinh
Liệu trình 5: 20 thang + 2 thông ứ: chậm kinh, thử que lên 2 vạch. Kiểm tra tây y: thai được 5, 6 tuần, đã vào buồng tử cung.
Cảm tưởng của chị Nguyễn Thị Nhung sinh năm 1985. Địa chỉ: T17 Gầm cầu Vĩnh Tuy đường Bạch Đằng Quận Hai Bà Trưng Hà Nội
Chị đã có 1 con gái. Chị muốn sinh thêm cháu thứ 2 mà chưa có. Chị đi kiểm tra, bác sĩ kết luận bị tắc 2 bên vòi trứng, tử cung bị viêm. Chị đã gọi điện đến phòng khám đặt thuốc điều trị. Sau khi điều trị 100 thang, chị đi kiểm tra, 2 vòi trứng đã thông hoàn toàn, tử cung đã hết viêm. Sau đó chị tiếp tục điều trị thêm 2 liệu trình nữa, chị thấy chậm kinh, thử que lên 2 vạch. Chị đi kiểm tra, thai được 8 tuần, đã vào buồng tử cung. Hiện thai đã được 6 tháng, cháu trai, sức khoẻ tốt. Chị đã gửi lời cảm ơn tới Lương y Nguyễn Hữu Toàn và đã giới thiệu cho nhiều người đến điều trị tại phòng khám. Phòng khám xin gửi lời chúc mừng tới chị cùng gia đình. Chúc chị cùng gia đình mạnh khoẻ, hạnh phúc.
Theo thaythuoccuaban.com tổng hợp
]]>
Tư cung lạnh gây vô sinh ơ nữ
Tử cung lạnh hay bào cung lãnh là thuật ngữ chỉ bào cung hư hàn khiến kinh nguyệt của người phụ nữ rối loạn, thống kinh, kinh nguyệt sẫm màu, vón cục…Trong Hải Thượng Y tông tâm lĩnh thiên Phụ đạo xán nhiên ghi: “Bào thai liên hệ vào thận và tâm bào lạc, thận và tâm bào lạc đều là âm tạng cả, nếu hư thì phong hàn lọt vào tử cung sẽ tuyệt không có con”. Khi tử cung lạnh gây tử cung tắc trở ảnh hưởng rất lớn tới việc thụ thai, nuôi dưỡng thai của người phụ nữ. Những phụ nữ mắc phải chứng tử cung lạnh thường khó có thai (có thể kiểm tra tây y vẫn cho kết quả bình thường), hoặc nếu có thai thường khó giữ thai. Tử cung lạnh có thể xuất phát từ bẩm sinh hoặc do người phụ nữ quá lao lực, căng thẳng, mệt mỏi, thường xuyên ăn uống kém, cơ thể suy nhược trong thời gian dài, làm khí huyết nuôi dưỡng bào cung kém cũng gây tử cung lạnh.
Điều trị tử cung lạnh theo Đông Y
Thiên Phụ đạo xán nhiên của Hải Thượng Lãn Ông có nói: “Nếu không lấy thuốc ôn ấm thì không lấy gì trừ được phong hàn, mà giúp sự sinh dục được thì nên dùng thuốc tân ôn kiêm thêm thuốc bổ dưỡng khí huyết. Nếu chỉ dùng riêng thuốc tân ôn thì tăng thêm cái táo nhiệt lấy gì để giúp cho việc sinh dục được, cho nên tử cung hư hàn mà không kết thai được, thì kiêng dùng thuốc ấm đơn thuần.
Nhưng thai do dương tinh gây ra, phải có âm huyết giữ lại, tinh kết thai, huyết thành bào thai”. Điều trị tử cung lạnh được chia theo các thể sau đây.
Triệu chứng: người mệt mỏi, chán ăn, hay hoa mắt chóng mặt. Kỳ kinh đến chậm, hoặc kinh nguyệt kéo dài, sắc kinh nhợt, sắc mặt nhợt, rêu trắng mỏng bệu, mạch hư nhược.
Pháp điều trị: Ôn bổ khí huyết, điều kinh.
| Tử cung lạnh thể khí hư | Nhân sâm | 8 | Phục linh | 12 | Bạch truật | 16 | |
| Hắc khương | 6 | Ngũ vị | 8 | ||||
Triệu chứng: Bụng dưới lạnh hay bị những cơn đau bụng dữ dội, kinh nguyệt thường ngắn ngày, màu kinh nhợt, lượng kinh ít, mạch trầm trì.
Pháp điều trị: Ôn trung bổ hư khu hàn.
| Tử cung lạnh thể hư hàn | Ngải cứu | 10 | Đương quy | 12 | Hoàng kỳ | 20 | |
| Bạch thược | 15 | Ngô thù du | 8 | Hương phụ | 10 | Xuyên khung | 15 |
| Thục địa | 15 | Sơn thù | 10 | Tục đoạn | 12 | Quan quế | 4 |
Triệu chứng: bụng dưới có những đám tích lạnh mà đau, khi gặp nóng thì dễ chịu. Kỳ kinh đến chậm, màu huyết đen tối, có hòn cục, da mặt sạm, chất lưỡi tối, có điểm ứ huyết, mạch trầm nhược.
Pháp điều trị: Ôn dương bổ hư.
| Tử cung lạnh thể dương hư | Kỷ tử | 10 | Nhục thung dung | 16 | Đại phụ tử | 4 | |
| Quan quế | 20 | Xà sàng tử | 10 | Ba kích | 15 | ||

Xét nghiệm nội tiết chuẩn đoán vô sinh nữ
Khi nghi ngờ về bệnh vô sinh các bác sĩ sẽ chỉ định các xét nghiệm nội tiết để khảo sát tình trạng hoạt động của buồng trứng và khả năng dự trữ noãn. Ngoài ra, xét nghiệm nội tiết còn được dùng để theo dõi sự phát triển nang noãn và rụng trứng.
Prolactin là một hormon quan trọng trong duy trì khả năng sinh sản ở phụ nữ. Nó ức chế hormon sinh sản là hormon kích thích nang (FSH) và hormon bài tiết gonadotropin (GnRH). Các hormon này cần để kích hoạt rụng trứng, để trứng phát triển và trưởng thành. Nếu hàm lượng prolactin cao sẽ ảnh hưởng đến rụng trứng và gây ra vô sinh.
Nguyên nhân phổ biến để prolactin cao là prolactinoma, một khối u sản xuất prolactin của tuyến yên. Prolactinomas là loại khối u phổ biến nhất của tuyến yên và thường là lành tính. Ở phụ nữ, prolactinoma có thể gây vô sinh và chu kỳ kinh nguyệt bất thường, ở nam giới, những khối u này có thể gây ra mất dần chức năng tình dục và ham muốn tình dục.
Mức prolactin được sử dụng, cùng với các xét nghiệm hormone khác, để giúp:
Giá trị tham khảo bình thường:
Nam : 4,04 – 15,2 ng/mL
Nữ : 4,79 – 23,5 ng/mL
Mức độ prolactin dưới mức bình thường thường không cần điều trị, nhưng có thể là dấu hiệu của suy tuyến yên toàn bộ. Mức độ thấp cũng có thể được gây ra bởi các loại thuốc như dopamine, levodopa, và các dẫn xuất ergot alkaloid, nồng độ PRL cao có nghĩa khả năng phát triển của nang noãn gặp trục trặc. Người phụ nữ có nồng độ PRL cao sẽ có những biểu hiện đặc trưng như rối loạn phóng noãn, tiết sữa, vô kinh.
FSH (follicle-stimulating hormone) và LH (luteinizing hormone) là hai loại hormone sinh sản do tuyến yên tiết ra. FSH đóng vai trò kích thích sự phát triển của nang noãn và LH đảm nhiệm các vai trò làm cho nang noãn trưởng thành, phóng noãn và tham tạo trong quá trình thụ tinh.
Để được giá trị đúng, người ta thường thực hiện xét nghiệm này vào đầu kỳ kinh tới. Kết quả của xét nghiệm sẽ giúp tiên lượng khả năng đáp ứng của các loại hormone này đến các hoạt động ở buồng trứng.
Nếu kết quả xét nghiệm cho thấy nồng độ FSH cao, nghĩa là khả năng dự trữ buồng trứng kém và có nguy cơ mắc hội chứng buồng trứng đa nang. Điều này thường gặp nhất là ở những phụ nữ đã lớn tuổi, do buồng trứng đã bắt đầu thu hẹp và trứng sinh ra ít hơn. Ở mức bình thường, nồng độ FSH ở đầu kỳ kinh luôn < 10IU/L.
Nồng độ LH đo được giúp tiên lượng về thời điểm phóng noãn. Thông thường, người ta dùng que thử trứng rụng để biết được đỉnh LH là bao nhiêu. Nếu que thử hiển thị 2 vạch, nghĩa là LH đạt đỉnh và theo lý thuyết sau 36 tiếng sẽ có hiện tượng trứng rụng. Khi LH cao có nguy cơ mắc hội chứng buồng trứng đa nang dẫn đến vô sinh.
Nồng độ cao của cả hai hormon FSH và LH cần thiết để quá trình rụng trứng xảy ra ở phụ nữ và cho sự chuyển dạng của nang trứng thành hoàng thể (corpus luteum) một quá trình được biết dưới tên gọi quá trình tạo hoàng thể (luteinization). Sau khi xảy ra rụng trứng, LH duy trì hoàng thể (nơi tổng hợp progesteron). Nếu không xảy ra tình trạng có thai, hoàng thể bị thoái hóa sau khoảng 10 ngày. LH cũng kích thích buồng trứng sản xuất các steroid, chủ yếu là estradiol. Các steroid này giúp tuyến yên điều hòa quá trình sản xuất LH. Vào tuổi mãn kinh, buồng trứng ngừng hoạt động chức năng và nồng độ LH tăng lên.
LH BÌNH THƯỜNG:
– Nữ.
+ Giai đoạn tạo nang buồng trứng: 5-30 mIU/mL hay 5-30 IU/L
+ Giữa chu kì kinh: 75 -150 mIU/mL hay 75 – 150 IU/L
+ Giai đoạn tạo hoàng thể: 3- 40 mIU/ml hay 3-40 IU/L
+ Giai đoạn mãn kinh: 30 – 200 mIU/ml hay 30 – 200 IU/L
– Nam: 6-23 mIU/mL hay 6-23 IU/L
TĂNG NỒNG ĐỘ LH
Các nguyên nhân chính thường gặp là:
– Vô kinh nguyên phát
– Không có buồng trứng bẩm sinh (congenital absence of ovaries).
– Mãn kinh.
– Đang hành kinh.
– Suy chức năng buồng trứng (ovarian failure).
– Hội chứng buồng trứng đa nang (hay hội chứng Stein- Leventhal).
– Rối loạn chức năng tuyến sinh dục tiên phát (primary gonadal dysfunction)…
GIẢM NỒNG ĐỘ LH
Các nguyên nhên chính thường gặp là:
– Giảm chức năng tuyến sinh dục (hypogonadotropism).
– U tế bào tiết prolactin…
Xét nghiệm AMH cũng được dùng để đánh giá dự trữ buồng trứng. Tuy nhiên, ưu điểm lớn nhất của AMH là kết quả xét nghiệm không phụ thuộc vào thời điểm xét nghiệm. Chính vì thế, độ chính xác của AMH luôn cao hơn so với các xét nghiệm FSH và LH.
AMH đánh giá khả năng sinh sản của buồng trứng: Nồng độ AMH trong máu (tính bằng ng/mL) tương quan trực tiếp với số lượng nang trứng. Đánh giá đáp ứng của buồng trứng đối với liệu pháp kích buồng trứng: Nồng độ AMH sử dụng để đánh giá đáp ứng của buồng trứng đối với liệu pháp kích buồng trứng để phục vụ cho liệu pháp thụ tinh trong ống nghiệm IVF (In vitro fertilization hoặc liệu pháp tiêm tinh trùng vào bào tương của trứng ICSI (Intracytoplasmic sperm injection) trong thụ tinh nhân tạo.
Trung bình, nồng độ AMH vào khoảng 2 – 6,8ng/ml (14,28 – 48,55pmol/l).
Nồng độ AMH thấp:
AMH giảm dần theo tuổi tác. Người phụ nữ bắt đầu có kinh đến mãn kinh, AMH sẽ luôn luôn giảm theo đồ thị hướng đi xuống và cuối cùng về mức zero.
AMH < 1ng/ml : kết luận buồng trứng yếu, dự trữ trứng giảm
Nồng độ AMH cao
Nồng độ AMH từ 10 – 15 : được kết luận là cao
Nồng AMH 15 ng/ml – 20ng/ml : được kết luận là quá cao.
Mức độ của các kích thích tố này còn cho biết khả năng dự trữ buồng trứng hoặc cung cấp trứng trong buồng trứng, nếu hàm lượng AMH thấp thì khả năng vô sinh cao.
Hormon E2 hoặc estradiol (thường được làm vào ngày thứ 2 hoặc thứ 3 của chu kỳ kinh nguyệt). Estradiol (E2) hoặc estrogen là hormon sinh dục nữ quan trọng được sản xuất trong buồng trứng. Các nang trứng trong buồng trứng tiết ra estrogen kích hoạt các chu kỳ sinh sản.
Estrogen là một nhóm steroid điều hòa chu kỳ kinh nguyệt và chức năng như là các hormone giới tính nữ chính. Các dạng phổ biến nhất của estrogen được thử nghiệm là estrone (E1), estradiol (17-beta estradiol, E2), và estriol (E3). Estrogen đo được trong máu hoặc nước tiểu là Estrogen tổng.
Estrogen chịu trách nhiệm về sự phát triển của cơ quan sinh dục nữ và các đặc điểm giới tính thứ cấp và được gắn liền với chu kỳ kinh nguyệt và mang thai. E1 và E2 là hai estrogen chính ở phụ nữ không mang thai, trong khi E3 là hormon chính trong thời kỳ mang thai.
Xét nghiệm estrogen có thể được sử dụng cho một loạt các lý do:
Mức độ estrone có thể tăng ở những bệnh nhân có hội chứng buồng trứng đa nang và lạc nội mạc tử cung. Các xét nghiệm có thể được sử dụng để hỗ trợ trong việc chẩn đoán một khối u buồng trứng, hội chứng Turner, và suy tuyến yên. Mức độ Estradiol được sử dụng trong việc đánh giá chức năng buồng trứng. Mức độ estradiol tăng trong các trường hợp tuổi dậy thì sớm ở trẻ em gái và nữ hóa tuyến vú ở nam giới. Sử dụng chính của nó đã được sử dụng trong chẩn đoán phân biệt của vô sinh. Estriol đôi khi có thể được chỉ định theo từng kỳ để giám sát một thai kỳ có nguy cơ cao. Khi nó được sử dụng theo cách này, các thử nghiệm được đo trong mẫu máu được rút ra trong cùng một ngày
Khi một phụ nữ đang gặp vấn đề về khả năng sinh sản, bác sĩ có thể sử dụng các phép đo estradiol trong quá trình của chu kỳ kinh nguyệt để theo dõi sự phát triển nang trước khithực hiện kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm (một sự đột biến estradiol theo thời gian). Estradiol cũng có thể chỉ định kiểm tra khi một người đàn ông cho thấy dấu hiệu của sự nữ tính, chẳng hạn như nữ hóa tuyến vú, có thể là do một khối u sản xuất estrogen.
Kết quả xét nghiệm có ý nghĩa là gì?
Mức tăng của estrogen được nhìn thấy trong:
– Chu kỳ kinh nguyệt bình thường
– Tuổi dậy thì sớm
– Khối u buồng trứng, tinh hoàn, hoặc tuyến thượng thận
Mức độ giảm của estrogen được nhìn thấy trong:
– Hội chứng Turner
– Thiểu năng sinh dục
– PCOS (hội chứng buồng trứng đa nang, hội chứng Stein-Levanthal)
GIÁ TRỊ BÌNH THƯỜNG
– Giá trị bình thường thay đổi tùy theo phòng xét nghiệm (liên quan với phương pháp định lượng, thuốc thử và máy xét nghiệm).
– Estrogen toàn phần trong máu:
Nữ:
+ Thời kỳ tiền mãn kinh: 23 – 261 pg/mL hay 84 -1325 pmol/L
+ Thời kỳ mãn kinh: < 340 pg/mL hay <110 pmol/L.
+ Thời kỳ trước dậy thì: < 20 pg/mL hay < 73 pmol/L.
Nam: < 50 pg/mL hay < 184 pmol/L.
– Estrogen toàn phần trong nước tiểu:
Nữ
+Thời kỳ tiền mãn kinh: 18-80 µg/24h hay 55 – 294 nmol/ngày.
+ Thời kỳ mãn kinh: < 20 µg /24h hay < 73 nmol/ngày.
Nam: < 15 – 40 pg/24h hay <55-147 nmol/ngày.
– Estriol máu:
Phụ nữ không có thai: 8-10 ng/L hay 28 – 34 prmol/L
Trong thời kỳ mang thai: Estriol bắt đẩu phát hiện được vào tuần mang thai thứ 9 và nồng độ này tăng lên dẩn theo tuổi thai tới một giá trị cuối cùng lên tới 15.000 ng/L hay 52.050 pmol/L
– Estradiol máu:
Nữ:
+ Ngoài thời gian mang thai: có thể thay đổi theo giai đoạn hoạt động sinh dục và chu kỳ kinh nguyệt:
Giai đoạn tạo nang buồng trứng: 20 – 120 ng/L hay 73 – 440 pmol/L.
Giai đoạn tạo hoàng thể: 80 – 200 ng/L hay 294 – 734 pmol/L.
+ Thời kỳ mãn kinh: < 30 ng/L hay < 11 pmol/L
Nam: < 30 ng/L hay < 11 pmoI/L
– Estron máu: Thời kỳ mãn kinh: 40 ng/L hay 148 pmol/L.
Các xét nghiệm vô sinh nữ thông qua các xét nghiệm nội tiết trên để đánh giá về sự hoạt động của buồng trứng, trứng,… là những xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán nguyên nhân và tình trạng vô sinh của bạn.
]]>
Niêm mạc tử cung dầy gây vô sinh ở nữ
Niêm mạc tử cung có cấu tạo như nào?
Niêm mạc tử cung hay còn gọi là nội mạc tử cung có cấu tạo gồm 2 phần: tế bào biểu mô trụ tuyến và mô đệm, gồm 2 lớp: Lớp nội mạc căn bản (lớp đáy): mỏng, không thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt, mang phần đáy của các ống tuyến. Lớp nội mạc tuyến (lớp nông): hoạt động chịu nhiều biến đổi trong chu kỳ kinh nguyệt, và độ dày mỏng của lớp này sẽ thay đổi theo từng giai đoạn: giai đoạn sạch kinh từ 2 đến 3 ngày, giai đoạn rụng trứng, giai đoạn chuẩn bị hành kinh.
Hàng tháng, dưới tác dụng của hormon sinh dục nữ, nội mạc tử cung phát triển dày lên để sẵn sàng nhận trứng thụ tinh làm tổ. Khi sự thụ tinh không diễn ra, niêm mạc tử cung sẽ tự bong ra và gây chảy máu hay còn gọi là hành kinh. Thời kỳ này niêm mạc tử cung thường là mỏng nhất. Lớp tế bào bong đến đâu thì các tế bào ở lớp đáy lại bắt đầu phát triển để tạo nên lớp niêm mạc và lại tiến triển theo chu kỳ kinh nguyệt tiếp đó. Khi có trứng đã thụ tinh về làm tổ, lớp này phản ứng do sự thay đổi nội tiết, nội mạc tử cung tiếp tục dày lên và trở thành lớp rất đặc biệt là màng rụng, cho phép phôi làm tổ và nhau thai phát triển. Do đó kích thước dày mỏng của niêm mạc tử cung cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình thụ thai cũng như nuôi dưỡng thai nhi phát triển.
Niêm mạc tử cung dày?
Nếu siêu âm lớp niêm mạc tử cung lớn hơn 20mm thì được xếp vào tình trạng niêm mạc tử cung dày, hay tăng sinh niêm mạc tử cung. Niêm mạc tử cung dày là một trong những nguyên nhân gây khó thụ thai ở phụ nữ.
Niêm mạc tử cung dày là do sự tăng sinh các tuyến với kích thước và hình dạng không đều kèm sự tăng tỷ lệ trên tuyến mô đệm so với niêm mạc tử cung ở giai đoạn phát triển (thường vào giai đoạn nửa sau của chu kỳ kinh nguyệt).
Tăng sinh NMTC thường có 4 dạng: Tăng sinh đơn giản, tăng sinh phức tạp, tăng sinh điển hình và không điển hình.
Nguyên nhân khiến niêm mạc tử cung dày (tăng sinh niêm mạc tử cung)
Niêm mạc tử cung dày hay còn gọi là tăng sinh niêm mạc tử cung thường do rối loạn nội tiết tố (thiếu hụt progesterone) gây ra. Hiện tượng này thường gây tình trạng rong kinh (vì niêm mạc tử cung dày và gây chảy máu nhưng không đủ chất hóc môn để cầm máu, do đó tình trạng chảy máu dây dưa, kéo dài). Ngoài ra, hiện tượng này còn có thể gây ra tình trạng vô kinh (thứ phát) kéo dài, do hoàng thể (vỏ trứng còn lại sau khi đã phóng noãn) không bị thoái hoá, vẫn sản sinh hóc môn sinh dục hoặc do buồng trứng và các tuyến nội tiết khác hoạt động “bất thường” làm cho niêm mạc tử cung cứ dày lên, không chịu bong ra (mà không phải do có thai).
Tây y điều trị niêm mạc tử cung dày (tăng sinh niêm mạc tử cung)
Hiện nay đa số các trường hợp bệnh nhân tăng sinh niêm mạc tử cung (niêm mạc tử cung dày) thường được điều trị bằng thuốc nội tiết progesterone. Mỗi đợt điều trị bệnh nhân uống thuốc từ 10-12 ngày/ 1 tháng, bệnh nhân uống thuốc từ 3-6 tháng.
Một số trường hợp niêm mạc tử cung dày gây hiện tượng rong kinh kéo dài, nếu điều trị bằng thuốc mà niêm mạc tử cung vẫn không bong ra hết được thì cần tiến hành thủ thuật nạo lớp niêm mạc tử cung không bong ra được đó ra. Thủ thuật này được đánh giá là khá an toàn, ít biến chứng, tuy nhiên vẫn có một số trường hợp bị thủng tử cung do nạo quá mạnh, ảnh hưởng đến cổ tử cung, tạo sẹo trên thành tử cung, và nhiễm trùng do quá trình nong nạo. Bên cạnh đó một số trường hợp sau khi đã nong nạo điều trị niêm mạc tử cung dày lại bị tái lại do rối loạn nội tiết.
Đông y điều trị niêm mạc tử cung dày
Thông thường bệnh nhân niêm mạc tử cung dày thường gây hiện tượng rong kinh. Nguyên tắc điều trị niêm mạc tử cung dày chủ yếu bằng phương pháp hoạt huyết, hóa ứ giúp điều hòa kinh nguyệt, điều hòa nội tiết tố nữ, cân bằng âm dương. Khi chu kỳ kinh nguyệt trở nên đều đặn, cơ thể người phụ nữ trở nên khỏe khoắn hơn, một số hóc môn sinh sản vì thế cũng được hình thành một cách cân bằng. Do vậy lớp niêm mạc tử cung cũng dần dần đạt độ dày ở mức độ cho phép. Khi đó cơ hội thụ thai sẽ tăng lên, cũng như khả năng nuôi dưỡng thai nhi tốt. Ngoài ra trong quá trình điều trị bệnh nhân nên hạn chế tiêu thụ các sản phẩm từ đậu nành, các sản phẩm tăng cường estrogen.
Phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn điều trị niêm mạc tử cung dày
Kết quả điều trị thực tế tại phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn cho thấy: Đối với những bệnh nhân niêm mạc tử cung dày thời gian điều trị trung bình khoảng 3 tháng, uống thuốc liên tục. Trong thời gian 3 tháng uống thuốc có khoảng 30% bệnh nhân có bầu luôn, 50% bệnh nhân sau 3 tháng uống thuốc chưa có bầu, nhưng đi siêu âm kích thước độ dày niêm mạc tử cung đạt mức cho phép.
Trong điều trị Phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn chia thành 4 thể: Đàm thấp, âm hư, huyết nhiệt, huyết ứ.
Thể đàm thấp cần Kiện tỳ tiêu đàm. Chỉ cần dùng phương thuốc: Trần bì 10g, bạch truật 12g, bán hạ 8g, bạch linh 12g, đẳng sâm 16g, ngưu tất 12g, cam thảo 6g, hương phụ 8g, Nhọ nồi 12g. Gia giảm tùy cơ địa người bệnh. Ngày uống 1 thang, sắc làm 2 lần.
Thể âm hư, tân dịch âm huyết giảm sút cần dưỡng âm chỉ huyết. Chỉ cần dùng phương thuốc: Thục địa 30g, Long cốt 16g. Đan bì 10g, Hoài sơn 15g, Mẫu lệ 12g, Bạch linh 10g, Sơn thù 15g, trạch tả 10g, Ô tặc cốt gia giảm. Ngày uống 1 thang, sắc làm 2 lần.
Thể huyết ứ: cần thông ứ chỉ huyết chỉ cần dùng phương thuốc: Đào nhân 10g, Ngũ linh chi 8g, Long cốt 12g, Qui đầu 12g, Hồng hoa 10g, Thục địa 12, Xuyên khung 8, Ngải diệp 12, Bạch thược 12, Đan bì 8, Mẫu lệ 12. Gia giảm thêm một số vị.
Thể huyết nhiệt: cần thanh nhiệt lương huyết cầm máu. Chỉ cần dùng phương thuốc: Qui đầu 12, địa du 12, địa cốt bì 10, ngẫu tiết 12, Xuyên khung 8, Hoàng cầm 12, huyết dụ 12, bạch thược 12, huyền sâm 12, đan bì 12. Gia giảm tùy cơ địa.
Một số trường hợp bệnh nhân điển hình
Bệnh nhân Nguyễn Thị Mai, Đức Giang, Yên Dũng, Bắc Giang
Chị lập gia đình đã gần 3 năm mà không có con. Kinh nguyệt chị không đều, đã 7 tháng nay không có kinh. Chị đi kiểm tra, bác sĩ kết luận Buồng trứng đa nang, niêm mạc tử cung dày 38mm. Chị đã đi làm IUI 3 lần mà không được. Được người quen giới thiệu, chị gọi điện đặt thuốc điều trị. Sau khi điều trị 7 đợt thuốc (140 thang), chồng chị đã gọi điện thông báo, sau khi dung thuốc của phòng khám, hiện chị đã có thai được 7 tháng. Phòng khám xin gửi lời chúc mừng tới anh chị cùng gia đình, chúc anh chị cùng gia đình mạnh khỏe, hạnh phúc.
Bệnh nhân Nguyễn Thị Phương Ly 1988, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Bệnh án: Chị lập gia đình 4 năm. Đã có 1 cháu 3 tuổi, sau đó chị thả mà không có con. Kinh nguyệt chị thường không đều, 45- 50 ngày mới có kinh một lần, mỗi lần có kinh kinh thường kéo dài 2 tuần mới hết, lượng kinh không nhiều, chị đi kiểm tra bác sĩ kết luận chị bị viêm lộ tuyến tử cung, niêm mạc tử cung dày.
Điều trị: 80 thang bệnh nhân thử que lên 2 vạch. Hiện tại chị đã sinh con gái khỏe mạnh.
Theo thaythuoccuaban.com tổng hợp
]]>Thế nào là viêm phần phụ
Khoảng 20% bệnh nhân nữ vô sinh, hiếm muộn có nguyên nhân từ bệnh viêm phần phụ và được cho là một trong những nguyên nhân phổ biến của vô sinh nữ.
Viêm phần phụ là tình trạng viêm nhiễm xảy ra ở vòi trứng, buồng trứng, dây chằng quanh tử cung vòi trứng. Viêm vòi trứng là tổn thương quan trọng, có thể gây vô sinh, chửa ngoài tử cung. Tổn thương buồng trứng chủ yếu là xơ hóa cũng ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng sinh sản.
Nguyên nhân của viêm phần phụ rất đa dạng: có thể nhiễm khuẩn trực tiếp từ viêm âm hộ, âm đạo, cổ tử cung gây viêm ngược dòng, do các thủ thuật phụ khoa không an toàn (dụng cụ tử cung, nạo hút thai…), quan hệ tình dục không an toàn, không giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, do mất cân bằng nội tiết, miễn dịch, dùng kháng sinh kéo dài dẫn đến loạn khuẩn, làm cho các vi khuẩn ở âm đạo, cổ tử cung trở nên gây bệnh. Hoặc nhiễm khuẩn gián tiếp khi phẫu thuật ruột thừa, phẫu thuật vùng tiểu khung.
Mầm bệnh thường gặp là tụ cầu, liên cầu, lậu cầu, chlamydia…
Các bác sĩ chuyên khoa phân loại viêm phần phụ thành hai dạng cơ bản: Cấp tính và mãn tính.
Viêm phần phụ cấp tính là trường hợp bộ phận sinh dục của nữ giới bị sưng, nề có vi trùng. Triệu chứng lâm sàng nổi bật là đau vùng bụng dưới đột ngột ở phụ nữ, đau tăng khi đi lại, thường đau cả hai bên (chiếm 90%). Rối loạn kinh nguyệt xảy ra trong 50% các trường hợp. Ngoài ra bệnh nhân có dấu hiệu nặng nề kích thích vùng bụng dưới như mót rặn, đi lỏng, tiểu khó, tiểu không hết nước tiểu. Sốt có thể là dấu hiệu kèm theo các triệu chứng này, nhiệt độ có khi trên 39 độ C. Có thể nôn hoặc buồn nôn. Bệnh nhân có nhiều khí hư, có khi khí hư có lẫn mủ, chiếm từ 39 – 65% các trường. Xét nghiệm bệnh nhân có Bạch cầu máu tăng, cấy máu và dịch âm đạo xác định vi khuẩn gây bệnh, siêu âm, nội soi để phát hiện các khối viêm nhiễm và áp-xe phần phụ.
Viêm phần phụ cấp không điều trị kịp thời đầy đủ sẽ diễn biến mạn tính, với các dấu hiệu không điển hình khiến người bệnh chủ quan. Trong viêm mạn tính, bệnh nhân đau vùng hạ vị hay hai bên hố chậu, thường có một bên trội hơn, đau thay đổi về cường độ, thời gian, từng cơn hay liên tục; khi đi lại nhiều làm việc nặng đau tăng, khi nghỉ ngơi đau ít hơn, đau có thể xuất hiện sau hành kinh 2-3 ngày. Khí hư không nhiều, không đặc hiệu. Bệnh nhân có thể ra máu bất thường trước và sau hành kinh hoặc rong kinh.
Viêm phần phụ không được điều trị sớm và triệt để sẽ gây ứ mủ, ứ nước vòi trứng, gây hẹp tắc vòi trứng dẫn đến vô sinh hoặc chửa ngoài tử cung. (Xem thêm “Tắc vòi trứng”)
Ngoài ra, khả năng thụ thai còn phụ thuộc vào tuổi tác và mức độ tổn thương của vòi trứng.
Các biến chứng khác có thể xảy ra trong đợt cấp viêm phần phụ: Viêm phúc mạc đáy chậu, Áp-xe phần phụ, Áp-xe buồng trứng, Viêm tấy lan toả đáy chậu, Viêm phúc mạc toàn thể…
Kháng sinh phù hợp sẽ được chỉ định sau khi có kết quả xét nghiệm các mẫu ký sinh trùng lấy ở cổ tử cung hoặc ở tử cung. Nhưng điều trị kháng sinh có thể gây loạn khuẩn và làm nặng hơn tình trạng viêm phần phụ. Khi dùng thuốc bệnh có dấu hiệu thuyên giảm rõ rệt, tuy nhiên khi dừng thuốc bệnh lại tái phát và nhiều trường hợp bị tái đi tái lại nhiều lần.
Trường hợp vòi trứng bị sưng mủ nhiều sẽ được chỉ định phẫu thuật cắt bỏ. Trường hợp vòi trứng bị chít hẹp sau khi mắc viêm vòi trứng, có thể được điều trị bằng vi phẫu thuật. Tuy nhiên, khả năng có thai sau điều trị rất bấp bênh.
– Đối với trường hợp cấp tính, bệnh nhân có một số biểu hiện Hơi sợ lạnh, sốt, có mồ hôi, đau vùng hạ vị, cự án, ra khí hư vàng như mủ, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác
Pháp trị: Thanh nhiệt trừ thấp, giải độc, hoạt huyết
| Viêm phần phụ cấp | Hoàng bá | 12 | Hoàng liên | 12 | Liên kiều | 16 | |
| Ngân hoa | 16 | Đại hoàng | 4 | Ý dĩ | 16 | Sa tiền | 12 |
| Tỳ giải | 16 | Nga truật | 12 | Uất kim | 8 | Tam lăng | 8 |
Châm cứu: Khí hải, Qui lai, Tam âm giao, Thứ liêu,
Gia giảm: Sốt cao thêm đại truỳ, khúc trì. Nếu bệnh nhân nôn châm thêm huyệt nội quan
– Đối với trường hợp mãn tính, bệnh nhân có biểu hiện đau ở vùng hạ vị, rêu lưỡi trắng dầy, mạch huyền tế, lưng đau
Pháp trị: Lý khí hoạt huyết là chính
| Viêm phần phụ mãn | Đẳng sâm | 12 | Hương phụ | 8 | Ngưu tất | 12 | |
| Tam lăng | 8 | Nga truật | 8 | Hạt quất | 12 | Hạt vải | 12 |
| Thiên tiên đằng | 12 | Xích thược | 12 | Huyền hồ | 12 | ||
Châm cứu: vùng hạ vị
Ngoài việc dùng thuốc uống, kết hợp với thuốc ngâm rửa (thảo dược tự nhiên)
Thực tế điều trị tại Phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn cho thấy khoảng 50% bệnh nhân viêm phần phụ sau thời gian điều trị tại phòng khám không bị tái lại, khoảng 30% bệnh nhân tái lại. Trong số đó đa số những trường hợp bị tái lại có biểu hiện viêm phần phụ nặng, bị đã lâu năm, điều trị tây y nhiều nhưng không có dấu hiệu thuyên giảm.
Một số trường hợp điều trị viêm phần phụ tại phòng khám
Cảm tưởng của chị Nguyễn Thị Tươi sinh năm 1990 – Địa chỉ: Ninh Bình
Chị bị viêm lộ tuyến, khí hư ra nhiều, dạng bột trắng, dính. Quan hệ đau rát, kinh nguyệt không đều. Chị đã gọi điện đến phòng khám, được bác sĩ tư vấn và cách điều trị. Sau 3 đợt điều trị, chị có gọi điện đến phòng khám thông báo bệnh khỏi hoàn toàn và gửi lời cảm ơn tới Thầy Toàn cùng toàn thể nhân viên phòng khám. Phòng khám xin chúc chị luôn mạnh khỏe, hạnh phúc.
Cảm tưởng của người nhà bệnh nhân Nguyễn Thị Bích Ngọc sn 2005 – Hải Phòng
Kính chào bác sĩ Toàn, con gái tôi là cháu Bích Ngọc, năm nay mới 12 tuổi, bị viêm phần phụ được 8 tháng, có đi khám ở cả viện nhi, và viện sản và bác sĩ có kê thuốc kháng sinh về uống. Trong khi dùng thuốc kháng sinh thì bệnh đỡ nhưng khi không dùng thuốc thì lại bị lại. Hiện tại cháu bị ra dịch rất nhiều, còn bị ngứa và đau rát, lại thường xuyên bị đau bụng. Sau khi uống 20 thang thuốc của bác sĩ, bệnh của con gái tôi đã đỡ nhiều, không còn bị đau bụng nữa. Hiện tại cháu vẫn tiếp tục uống thuốc để bệnh khỏi hoàn toàn. Tôi xin thông báo để bác sĩ được biết.
]]>Thế nào là u xơ tử cung
U xơ tử cung, hay còn gọi là nhân xơ tử cung, là một loại u lành tính gặp ở 20% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. U xơ tử cung có thể là một khối duy nhất hoặc nhiều khối khác nhau, kích thước có thể chỉ vài milimet, nhưng cũng có thể phát triển to gần đến xương ức, chiếm gần hết tử cung. Khối u xơ có thể phát triển chậm chạp, nhưng đôi khi lại rất nhanh.
Vị trí của u xơ có thể: dưới niêm mạc tử cung (nằm ở mặt trong tử cung), trong lớp cơ tử cung, dưới thanh mạc tử cung (nằm ở mặt ngoài tử cung), ở đáy, thân, eo hay cổ tử cung.
U xơ tử cung là một trong những nguyên nhân vô sinh hiếm muộn ở phụ nữ.
Hiện nay nguyên nhân còn chưa rõ ràng. Yếu tố di truyền có lẽ đóng một vai trò nào đó trong bệnh này.
Sự phát triển của u xơ dường như cũng chịu ảnh hưởng của yếu tố hormone, nhất là estrogen. Khi estrogen trong cơ thể tăng cao, u xơ tử cung thường to ra do sự tăng sinh các sơi cơ, mô cơ ở thành tử cung. U xơ có xu hướng phát triển suốt trong giai đoạn sinh đẻ của người phụ nữ và phát triển rất nhanh trong thai kỳ khi nồng độ estrogen tăng cao nhất. Sau mãn kinh khối u xơ thường thu nhỏ lại do nồng độ estrogen suy giảm. Một số hormone khác, như progesterone, cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của u xơ.
Nghiên cứu cho thấy phụ nữ béo phì, phụ nữ độc thân, hay có ít con, có kinh sớm (trước 12 tuổi) có nguy cơ bị u xơ cao hơn, phụ nữ sử dụng thuốc ngừa thai uống và nữ vận động viên điền kinh ít có nguy cơ bị u xơ
Đến hơn 50% phụ nữ bị u xơ không biểu hiện triệu chứng. Hầu hết các u xơ tử cung được phát hiện tình cờ khi thăm khám vùng chậu định kỳ hoặc theo dõi trước khi sinh.
Triệu chứng đầu tiên của u xơ tử cung là ra khí hư nhiều do niêm mạc tử cung bị kích thích. Khí hư thường trong, đôi khi loãng như nước và ngày một nhiều hơn.
Tiếp đó, bệnh nhân bị rối loạn kinh nguyệt, thời gian hành kinh kéo dài hơn bình thường hoặc lượng máu kinh nhiều hơn, có máu cục. Khi khối u xơ đã lớn, máu kinh không ra theo chu kỳ nữa mà có thể xuất hiện bất cứ lúc nào gọi là rong huyết. Tình trạng ra huyết kéo dài dẫn đến thiếu máu, khiến bệnh nhân xanh xao, choáng váng, hồi hộp, mệt mỏi, suy kiệt… Không ít trường hợp ra máu rất nhiều khi hành kinh do khối u xơ cản trở sự co bóp của tử cung, khiến tử cung bị đờ và máu chảy nhiều, gọi là băng kinh, nếu không được xử trí kịp thời sẽ nguy hiểm đến tính mạng.
Kèm theo bệnh nhân có thể đau bụng dưới do tử cung co bóp mạnh để đẩy máu kinh ra ngoài hoặc đau lưng vùng thấp.
Khối u phát triển quá to (lớn hơn 5 cm) gây chèn ép các cơ quan bên cạnh, gây đau, bí tiểu, táo bón, rối loạn tiêu hóa…
Nhiều người có thể sờ thấy nhân xơ tử cứng chắc ở vùng bụng dưới vào ban đêm khi các cơ bụng được thả lỏng.
Trường hợp nặng hơn là khi khối nhan xơ tạo thành polyp tụt xuống âm đạo có thể sờ thấy khiến bệnh nhân bị ra máu nhiều và có cảm giác đau vướng mỗi khi sinh hoạt tình dục. Nếu lâu ngày polyp bị nhiễm khuẩn, âm đạo sẽ tăng tiết dịch, lẫn máu và mủ nên rất hôi; tình trạng nhiễm khuẩn có khi lan ngược lên tử cung, gây biến chứng nguy hiểm.
Bệnh nhân khó có thai do u xơ gây chèn ép, làm gập vòi trứng hoặc làm bít lỗ cổ tử cung, ảnh hưởng đến sự di chuyển của tinh trùng, ngăn cản trứng thụ thai. Mặt khác khối u có thể làm biến dạng tử cung và lớp nội mạc tử cung, gây bất lợi cho sự làm tổ của trứng.
Thai phụ có u xơ tử cung có thể sẩy thai liên tiếp do lớp nội mạc không phát triển đầy đủ, và do buồng tử cung bị chèn ép, không phát triẻn to ra được hoặc sinh non, ngôi thai bất thường, rau bám ở vị trí bất thường (rau tiền đạo, rau cài răng lược). Thậm chí, những khối u to, nằm ở vị trí như eo tử cung, có thể làm cản trở hoặc tắc nghẽn gây khó khăn cho cuộc sinh, kéo dài cơn chuyển dạ có khi sản phụ không sinh được, phải mổ và có nguy cơ bị băng huyết cao hơn (do u xơ cản trở tử cung co hồi, đờ tử cung).
Trong thời kỳ hậu sản, thường là u xơ sẽ nhỏ lại, không gây biến chứng gì. Tuy nhiên, cũng có khi nó gây nhiễm khuẩn, nhất là đối với các u xơ dưới niêm mạc.
Những u xơ có cuống sẽ gây biến chứng xoắn và phải phẫu thuật cấp cứu
Thuốc ngừa thai dạng uống hoặc các hormone sinh dục giúp kiểm soát triệu chứng cường kinh, có thể làm teo u. Nhưng nội tiết tố chủ yếu là thuốc ngừa thai đường uống. Điều đó đồng nghĩa với việc không thể thụ thai.
Một số thuốc khác có thể làm giảm kích thước khối u xơ do hạ thấp nồng độ estrogen nhưng gây ra nhiều triệu chứng của mãn kinh như cơn nóng bừng, tính khí nóng nảy, nhức đầu, khô âm đạo và mất xương nên không thể dùng lâu dài. Khối u xơ thường tái phát sau khi ngưng thuốc.
Hầu hết các thuốc điều trị u xơ được sử dụng như một liệu pháp tạm thời trong mãn kinh sớm hoặc chuẩn bị cho phẫu thuật.
Phương pháp phẫu thuật thường dùng là thủ thuật cắt bỏ u xơ, trong thủ thuật này người ta chỉ cắt bỏ khối u và giữ nguyên tử cung. Nếu chỉ cắt khối u xơ, tỷ lệ tái phát khoảng 10%.
Nếu phẫu thuật nội soi, sự lành vết thương hết sức mau chóng và để lại sẹo nhỏ. Tuy nhiên hiện nay chúng chỉ được áp dụng cho các u xơ nhỏ hoặc các u xơ mới hình thành nhưng có tốc độ phát triển nhanh. Nói chung phẫu thuật qua nội soi hiếm khi cần vì thường các u xơ nhỏ không cần điều trị.
Một phẫu thuật khác là cắt tử cung. Biện pháp này điều trị u xơ hữu hiệu nhất, nhưng chỉ nên thực hiện nếu u xơ có khả năng gây biến chứng. Phẫu thuật cắt tử cung ít biến chứng hơn phẫu thuật cắt khối u xơ và đó là giải pháp điều trị tận gốc. Nhưng bệnh nhân vĩnh viễn không thể mang thai
Gây tắc động mạch nuôi khối u là phương pháp không phẫu thuật và rất ít xâm nhập nhất có thể là một lựa chọn tốt cho những bệnh nhân không muốn phẫu thuật. Sau một thời gian, u xơ không được cấp máu sẽ bị thiếu oxy và chất dinh dưỡng, dẫn đến hoại tử vô trùng. Từ đó chúng dần dần teo nhỏ trở thành sẹo không có mạch máu hoặc biến mất hoàn toàn. 85% phụ nữ được điều trị theo phương pháp này hoàn toàn không còn các triệu chứng đau hoặc các triệu chứng do khối u. Tỷ lệ sang chấn tử cung cũng như nhiễm trùng rất thấp. Các nghiên cứu về khả năng có thai trở lại sau thủ thuật hiện chưa hoàn thành. Tỷ lệ tái phát u xơ cũng chưa được biết rõ, và những ảnh hưởng lâu dài của thủ thuật còn phải được nghiên cứu thêm.
U xơ cổ tử cung là một loại u lành tính thường gặp, thường liên quan đến sự rối loạn chức năng buồng trứng, sự xuất tiết quá nhiều nội tiết tố nữ cho nên bệnh có xu hướng teo sau thời kỳ mãn kinh…Y học cổ truyền cho rằng do khí huyết ngưng trệ ở hai mạch Xung và Nhâm mà hình thành u xơ tử cung. Điều trị u xơ tử cung chủ yếu nhuyễn kiên, tiêu tích, hành khí, hoạt huyết. Nếu khối u nhỏ hơn tử cung có thai ba tháng, có yêu cầu sinh đẻ hoặc gần thời kỳ mãn kinh, không có triệu chứng rõ rệt, có thể điều trị bằng Đông y và theo dõi. Nếu khối u to, có triệu chứng chèn ép và phát triển nhanh, cần dùng phẫu trị. Thực tế điều trị u xơ tử cung được phân làm 2 loại chính:
+ Thiên về huyết ứ: Dùng bài Quế Chi Phục Linh Hoàn thêm Bạch linh, Đào nhân, Xích thược, Đơn bì mỗi thứ 12g, Miết giáp, Mẫu lệ đều 20g, Quế chi 6g. Sắc uống.
+ Thiên Về Khí Trệ: Dùng bài Hương Lăng Hoàn thêm Hải tảo, Côn bố, Quất hạch, Hạ khô thảo đều 20g, Mộc hương, Chỉ xác, Đinh hương, Tam lăng, Nga truật, Thanh bì, Xuyên luyện tử, Tiểu hồi đều 6g.
Một số trường hợp điển hình đã điều trị u xơ tại phòng khám Nguyễn Hữu Toàn
Trường hợp bệnh nhân Nguyễn Thị Hòa 1969, Thủy Nguyên, Hải Phòng
Cách đây mấy năm tự nhiên tôi thấy bụng dưới hay bị đau, có kinh thường bị đau, tôi có đi kiểm tra và phát hiện trong cổ tử cung có u xơ lành tính kích thước 1.5x 3.0 cm, bác sĩ khuyên tôi nên làm phẫu thuật để bóc tách u xơ. Tôi rất lo lắng khi phải phẫu thuật, người bạn tôi giới thiệu đến cắt thuốc ở phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn về uống. Tôi kiên trì uống thuốc 4 tháng liên tục sau đó đi kiểm tra lại, kết quả kích thước khối u đã nhỏ hơn chỉ còn 1×2.5. Sau đó tôi tiếp tục uống thuốc thêm 2 tháng nữa và đi kiểm tra lại thì không còn khối u nữa. Tôi rất vui và cảm ơn phòng khám.
Bệnh nhân Lại Thu Thảo Nguyên 1978, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc
Vợ chồng tôi đã có một con gái 3 tuổi, hiện tại tôi muốn có một cháu nữa, đợt vừa rồi tôi đi khám và phát hiện có u xơ cổ tử cung, kích thước khá to nên tôi cũng lo lắng. Tôi vào internet và đọc được thông tin về phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn là một phòng khám lâu đời, có uy tín và chữa bệnh hiệu quả. Nên tôi có gọi điện đến phòng khám để kể bệnh lấy thuốc, tôi kiên trì uống thuốc 4 tháng liên tục thì khối u không còn, và kinh nguyệt của tôi đã đều hơn và vòng kinh ngắn hơn, sau thời gian điều trị 1 tháng thì tôi có bầu. Hiện tại tôi đã sinh môt bé trai được 8 tháng. Tôi gửi lời cảm ơn phòng khám rất nhiều.
Bệnh nhân Vũ Thị Tươi 1959, Yên Khánh, Ninh Bình
Chào nhà thuốc Nguyễn Hữu Toàn
Tháng trước tôi có đi kiểm tra và phát hiện bị u xơ cổ tử cung, khối u lành tính, chưa thấy tế bào K. Tôi được người quen giới thiệu đến phòng khám của Bác Toàn để cắt thuốc về điều trị, tôi điều trị ở đây được 3 tháng thì có siêu âm, nội soi để kiểm tra lại thì khối u đã hết. Tôi xin gửi lời cảm ơn nhà thuốc. Chúc nhà thuốc ngày càng chữa khỏi bệnh cho nhiều người hơn nữa. Hiện nay tôi đang bị rối loạn tiền đình, mong nhà thuốc gửi thuốc để điều trị khỏi bệnh này cho tôi. Tôi xin cảm ơn.
Theo thaythuoccuaban.com tổng hợp
]]>Suy buồng trứng sớm là gì?
Suy buồng trứng sớm sớm là hiện tượng suy giảm chức năng bình thường của buồng trứng trước tuổi 40. Nếu buồng trứng suy, nó không sản xuất số lượng bình thường hormone estrogen hoặc phát hành thường xuyên trứng. Suy buồng trứng sớm là một trong những nguyên nhân dẫn tới vô sinh.
Siêu âm: Trứng nhỏ không phát triển, kiểm tra nồng độ estrogen giảm.
– Hệ thống miễn dịch có vấn đề:Phụ nữ mắc bệnh viêm tuyến giáp tự miễn, cơ thể tự sinh ra kháng thể hủy hoại tuyến giáp, đây là một trong những nguyên nhân gây suy buồng trứng sớm.
– Suy buồng trứng tự phát: Bệnh nhân đang có kinh tự dưng kinh thưa dần sau đó mất hẳn, bế kinh, nhưng không được chữa trị kịp thời nên khiến buồng trứng bị suy, mất khả năng làm việc.
– Suy buồng trứng do phẫu thuật: Phụ nữ nạo phá thai nhiều lần, hoặc chửa ngoài tử cung phải phẫu thuật cắt 1 bên hoặc cả hai bên buồng trứng.
– Suy buồng trứng do lạm dụng thuốc kích trứng trong điều trị vô sinh: Lạm dụng thuốc kích trứng làm cho buồng trứng mất dần chức năng làm việc, gây suy buồng trứng sớm.
– Suy buồng trứng sớm cho nhiễm virut gây bệnh: Một số loại vi rút gây bệnh như virus herpes simplex (HSV), virus gây bệnh quai bị có thể gây viêm buồng trứng hoặc buồng trứng tự miễn làm tổn hại đến buồng trứng gây suy buồng trứng sớm.
– Suy buồng trứng do nhiễm hóa chất độc hại, phơi nhiễm phóng xạ: Phụ nữ thường xuyên tiếp xúc với hóa chất độc hại, có chứa chất phóng xạ có thể ảnh hưởng tới sức khỏe, gây tổn thương tế bào sinh sản có thể dẫn tới hiện tượng suy buồng trứng sớm.
– Suy buồng trứng do giảm cân quá mức: Giảm cân quá mức khiến lượng chất béo bên trong cơ thể bị giảm “cấp tốc”, khi tỷ lệ chất béo giảm xuống quá thấp sẽ ảnh hưởng đến lượng estrogen trong cơ thể, vì chất béo là thành phần chủ yếu để tạo thành estrogen, chất béo trong cơ thể không đủ, sẽ khiến estrogen bị thiếu hụt, estrogen thiếu có thể làm rối loạn kinh nguyệt, thậm chí còn gây tắt kinh, mà tắt kinh làm kìm hãm chức năng rụng trứng của buồng trứng, dễ khiến chức năng buồng trứng bị suy sớm, nếu chữa trị không kịp thời, có thể dẫn đến vô sinh. Suy buồng trứng sớm lại có thể khiến cho tình trạng rối loạn kinh nguyệt trầm trọng hơn, như vậy sẽ tạo nên một vòng tuần hoàn ác tính, luẩn quẩn này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và việc mang thai.
– Suy buồng trứng do thường xuyên sử dụng chất kích thích, đồ uống có cồn, ma túy gây rối loạn kinh nguyệt, có thể là nguyên nhân gây suy buồng trứng.
– Suy buồng trứng do stress: Thường xuyên phải chịu sức ép lớn, đối mặt với căng thẳng có thể gây rối loạn chức năng thần kinh thực vật, ảnh hưởng đến sự điều tiết nội tiết trong cơ thể, làm giảm hormon estrogen gây suy giảm chức năng buồng trứng sớm.
– Cần theo dõi chu kỳ kinh nguyệt, nếu thấy kinh nguyệt có vấn đề bất thường: máu kinh ít, kinh thưa dần, mất kinh mấy tháng liên tiếp cần đi kiểm tra và điều trị sớm, tránh để trường hợp rối loạn kinh buồng trứng kéo dài gây suy buồng trứng.
– Cần hạn chế stress căng thẳng liên tục nên giữ tinh thần lạc quan vui vẻ: Stress, căng thẳng có thể gây rối loạn hormon sinh sản, hạn chế tiết estrogen dễ suy buồng trứng.
– Có chế độ ăn uống hợp lý tăng cường hệ miễn dịch, đảm bảo sức khỏe chống lại các loại virut gây bệnh, có thể làm suy giảm buồng trứng
– Không lạm dụng thuốc kích trứng đặc biệt là thuốc kích trứng dạng tiêm trong điều trị vô sinh hiếm muộn.
Tây y điều trị suy buồng trứng sớm bằng phương pháp bổ sung estrogen và nhiều hormone khác mà buồng trứng không tạo ta được. Phương pháp này sẽ giúp giảm bớt các triệu chứng hội chứng mãn kinh như: rối loạn vận mạch, chức năng tình dục, các vấn đề về da, tâm trạng, thể chất…Đồng thời, ngăn ngừa hệ quả của sự thiếu hụt estrogen gây ra loãng xương. Từ đó, hồi phục chức năng buồng trứng, giúp phát triển noãn bào, thậm chí kích thích phóng noãn. Tuy nhiên phương pháp này hầu như chỉ có tác dụng khắc phục phần nào những biến chứng mà suy buồng trứng gây ra, tuy nhiên riêng đối với bệnh vô sinh thì phương pháp này gần như hiệu quả không đáng kể.
Đông y cho rằng con gái 7 tuổi thận khí thịnh…14 tuổi thiên quý đến, nhâm mạch thông, thái xung
mạch thịnh, kinh nguyệt đến kỳ do vậy mà có con. Trường hợp phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nhưng có các dấu hiệu như tắt kinh, không thụ thai, ra mồ hôi, bốc hỏa, thân dưới lạnh, âm đạo khô, các trạng thái mất cân bằng âm dương đều thuộc phạm trù thận âm, hoặc thận dương, suy buồng trứng.
Đông y chia suy buồng trứng thành các thể bệnh riêng để điều trị. Nếu là nguyên nhân do thận dương hư thì cần ôn thận bổ noãn cung. Nếu thuộc thận âm hư thì cần tư thận, dưỡng huyết, bổ noãn cung. Ngoài ra cũng cần kết hợp thêm các kết quả xét nghiệm khác để xác định thêm những nguyên nhân gây suy buồng trứng sớm từ đó việc điều trị sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn.
Những bệnh nhân có dấu hiệu suy buồng trứng sớm, hoặc đang bị suy buồng trứng trước hết cần tránh xa môi trường bị phơi nhiễm bởi hóa chất độc hại, chất phóng xạ. Nên chọn nơi có môi trường sống trong lành.
Tập thể dục đều đặn giúp có một cơ thể khỏe mạnh, giữ trọng lượng hợp lý.
Hạn chế tối đa những căng thẳng, stress (vì đây là nguyên nhân gây rối loạn nội tiết, giảm tiết estrogen, rối loạn chức năng buồng trứng, suy hoặc teo buồng trứng sớm).
Không hút thuốc lá, uống rượu bia, và sử dụng các chất kích thích.
Về ăn uống: Nên ăn nhiều rau xanh, hoa quả tươi: đây là những thực phẩm giàu vitamin, khoáng chất, giúp tăng cường sức đề kháng cho cơ thể. Nên ăn đa dạng các loại rau, và hoa quả (tô màu cho bữa ăn) để cơ thể không bị thiếu chất.
Phụ nữ suy buồng trứng sớm nên ăn nhiều các thực phẩm giàu vitamin D và Canxi. Đây là hai thành phần đặc biệt quan trọng và cần thiết, giúp tái tạo estrogen cho cơ thể. Một số thực phẩm giàu canxi có lợi cho sức khỏe: cá hồi, sữa và các sản phẩm từ sữa, ngũ cốc nguyên hạt, đậu nành, hạt dẻ, một số loại rau xanh như súp lơ, rau dền,…
Uống nhiều nước để bổ sung lượng nước cần thiết cho cơ thể.
Tổng hợp những bệnh án điều trị hiệm muộn tại Phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn cho thấy, số lượng bệnh nhân suy buồng trứng chiếm khoảng 10%, trong đó ngoài những nguyên nhân chủ quan thì nguyên nhân khách quan cũng chiếm tỷ lệ cao, theo đó rất nhiều trường hợp bệnh nhân suy buồng trứng do lạm dụng thuốc kích trứng.
Quá trình điều trị cho thấy khoảng 30-40% bệnh nhân suy buồng trứng sau liệu trình điều trị tại phòng khám đã phục hồi được buồng trứng, đã có trứng phát triển tốt đạt kích thước cho phép. Trong số những trường hợp đã phục hồi được buồng trứng thì có đến 50% đã mang thai tự nhiên được, số còn lại có thể lấy được trứng tốt để đặt phôi.
Một số trường hợp suy buồng trứng đã điều trị tại phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn
Bệnh nhân Đỗ Thị Kim sinh năm 1979. Địa chỉ: Huyện Ân Thi – Hưng Yên – suy buồng trứng sớm, trứng lép
Chị lập gia đình đã 2 năm mà chưa có cháu nào. Chị đi kiểm tra, trứng nhỏ, kém phát triển, kinh nguyệt không đều, bác sĩ kết luận chị bị suy buồng trứng, đã điều trị nhiều nơi nhưng chưa có kết quả. Chị có gọi điện đến phòng khám được các bác sĩ tư vấn về bệnh và cách điều trị bằng đông y. Chị đồng ý lấy thuốc điều trị. Sau 2 đợt thuốc điều trị (42 thang) chị đã gọi điện về phòng khám thông báo, chị chậm kinh và thử que lên 2 vạch. Chị gửi lời cảm ơn tới Thầy Toàn cùng toàn thể các y bác sĩ phòng khám. Phòng khám xin gửi lời chúc mừng tới chị cùng gia đình, chúc chị cùng gia đình mạnh khoẻ, hạnh phúc.
<embed type=”application/x-mplayer2″ pluginspage=”http://www.microsoft.com/Windows/MediaPlayer/” src=”http://thaythuoccuaban.com/video_cam_tuong/maithilien1974.mp3″ name=”ktstar120″ width=”280″ height=”45″ autostart=”0″ loop=”1″ title=”undefined”>
Bệnh nhân Nguyễn Thị Thu Hương 1978, Đồng Nai – suy buồng trứng sớm
Em là Nguyễn Thị Thu Hương sinh năm 1978 ở Biên Hòa-Đồng Nai, đã được phòng khám chữa bệnh vô sinh thứ phát thành công, bệnh mà theo các bác sĩ BV Từ Dũ gọi là suy buồng trứng sớm đã tư vấn cho em làm TTTON. Hiện nay em đang mang thai được hơn 12 tuần, thai kỳ bình thường. Em viết thư này xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy và các bs phòng khám. Kính chúc thầy và mọi người có nhiều sức khỏe để tiếp tục công việc cao quý là chữa bệnh cứu người, phòng khám Nguyễn Hữu Toàn thật đúng là “nơi sự sống hồi sinh”.
Thưa thầy, với thai kỳ của em mong thầy cắt thuốc để giúp bé có thêm sức đề kháng sau này.
Ngoài ra, em còn vấn đề này nhờ thầy tư vấn, tóc của em bị bạc sớm và rất nhiều, ai nhìn thấy cũng ngạc nhiên. Trước đây em có uống cao Hà Thủ Ô của Lavanviet nhưng cũng không cải thiện được gì. Em xem trên internet thấy có nói đến việc nhuộm tóc bằng thảo được,cây lá móng, sẽ an toàn hơn so với thuốc nhuộm thông thường, !
Bệnh nhân Lê Thị Yến sinh năm 1989. Địa chỉ: PHường 3 thành phố Vũng Tàu.
Chị kết hôn đã 2 năm mà chưa có con. Vòng kinh không đều, 2-3 tháng mới có kinh 1 lần. Chị đi kiểm tra, bác sĩ kết luận suy buồng trứng, buồng trứng không hoạt. Bác sĩ tây y kết luận chị không có khả năng mang thai, chị rất hoang mang và gọi điện đến phòng khám để được các bác sĩ tư vấn về bệnh và cách điều trị. Sau khi nghe các bác sĩ tư vấn, chị đã đồng ý lấy thuốc. Khi chị uống đến đợt thuốc thứ 2 (28 thang), chị thấy trong người khó chịu, buồn nôn, chị gọi điện đến phòng khám. Bác sĩ yêu cầu chị mua que thử thai, tuy nhiên chị đã nói chưa thể có thai vì bác sĩ tây y đã kết luận chị không có khả năng có thai, chị mới uống 28 thang thì chưa thể có điều kỳ diệu đó được. Sau khi bác sĩ phân tích, chị đã đồng ý mua que thử, và điều kỳ diệu đã đến, chị thử que lên 2 vạch và đã gọi điện đến phòng khám để thông báo. Bác sĩ phòng khám cũng đã rât vui mừng vì trường hợp của chị là rất khó, nhưng đã có kết quả. Niềm hạnh phúc không chỉ với chị mà toàn thể các bác sĩ phòng khám thấy cũng rất vui và hạnh phúc. Hiện tại chị đi kiểm tra, thai đã được 10 tuần, sức khoẻ 2 mẹ con tốt. Phòng khám xin gửi lời chúc mừng tới chị cùng gia đình, chúc chị cùng gia đình mạnh khoẻ, hạnh phúc.
<embed type=”application/x-mplayer2″ pluginspage=”http://www.microsoft.com/Windows/MediaPlayer/” src=”http://thaythuoccuaban.com/video_cam_tuong/lethiyen1989.mp3″ name=”ktstar99″ width=”280″ height=”45″ autostart=”0″ loop=”1″ title=”undefined”>
]]>